Quá trình hình thành và truyền thừa luật học ở Ấn Độ

      I.SỰ HÌNH THÀNH GIỚI LUẬT

  1. Nguyên do của việc chế định Giới luật

Giới luật là một bộ phận trong Tam tạng thánh giáo của đức Phật, đó là những ghi chép về Luật nghi chuẩn mực do đức Thích Ca chế định.

Sau khi thành đạo, đức Thánh Ca liền vận chuyển bánh xe pháp luân, thu nhập môn đồ thành lập Tăng đoàn để tuyên dương Thánh đạo, cứu vớt chúng sinh. Theo đó, giáo nghĩa được nói ra đều là chân lý và Tăng đoàn ngày một lớn mạnh. Trong 12 năm đầu Tăng chúng thanh tịnh không có người vi phạm, cho nên trong thời kỳ này đức Thế Tôn đã vì tăng “vô sự” mà lược thuyết giáo giới:

Khéo giữ gìn lời nói

Tự thanh tịnh ý chí

Thân không làm điều ác

Ba nghiệp này thanh tịnh

Làm được hạnh như thế

Là đạo bậc Đại Tiên

Đến năm thứ 13, sau khi đức Thế Tôn thành đạo, trong Tăng đoàn bắt đầu phát sinh pháp hữu lậu. Do vật đòi hỏi sự cần thiết phải chế định Giới luật để thống nhất Tăng đoàn và bảo vệ thành quả của người tu hành. Tiếp theo đó cho đến tận những năm cuối đời, Giới luật liên tiếp được chế định, sửa đổi cho hoàn thiện, phù hợp với thực tế. Sau khi đức Thế Tôn nhập diệt, Tôn giả Ca-diếp lãnh đạo 500 vị La Hán tổ chức cuộc kết tập Luật tạng. Từ đó Luật tạng được hình thành để cùng với Kinh – Luận hợp thành Tam tạng giáo điển Phật giáo.

Giới luật Phật giáo được chế định là do sự cần thiết đòi hỏi của thực tế. Việc chế định Giới luật cho Tăng đoàn không phải việc làm trong một ngày. Trong Tăng đoàn Phật giáo, buổi đầu không có một điều Giới luật nào được chế định. Bởi những người xuất gia lúc bấy giờ đều là bậc đại că cơ, thường chỉ ở ngay một vài lời khai thị của đức Thế Tôn liền chứng ngộ Thánh quả; thấp nhất cũng đắc pháp nhẫn tịnh, kiến đạo chứng Sơ quả; cao thì là quả vị A-la-hán.

Do “Đạo cộng Giới” nên tự nhiên mọi sinh hoạt của Tăng đoàn luôn luôn phù hợp với mọi yêu cầu của Giới luật. Không có người phạm tội, vì thế không cần phải chế giới. Đến giữa và cuối đời của đức Thế Tôn, vào thời điểm ấy nói theo “chất” thì chúng xuất gia không được như những năm đầu. Căn cơ người tu hành thấp kém hỗn tạp, không còn sự thuần khiết dễ dạy bảo. Nói theo “lượng” thì Tăng đoàn ngày càng đông đảo, căn tính phức tạp, vàng thau lẫn lộn, do đó ngay trong quan hệ nội tại phát sinh nhiều sự kiện phức tạp. Cá nhân các Tỷ – khiêu phải xử lý thế nào? Tăng đoàn cần làm gì để duy trì tính ổn định, thống nhất? Ngay cả mối quan hệ giữa Tăng đoàn và xã hội phải giải quyết ra sao? v.v.

Trong đó bao quát rất nhiều vấn đề, đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng. Do vậy cần có những chuẩn mực của pháp luật. Vốn dĩ Tôn giả Xá Lợi Phất sớm nhận thấy Tăng đoàn ngày càng phát triển rộng lớn, nhưng lại thiếu đi sự đảm bao cho sự ổn định nên Ngài đã đề nghị đức Phật chế định Giới luật. Đức Phật đã chỉ dạy: “Các đức Phật Như Lai không vì chưa có pháp hữu lậu mà chế giới họ cho các đệ tử”. Về sau trong Tăng đoàn phát sinh những điều tệ hại, đại chúng thấy rằng không khẩn trương chế giới thì không được, bèn đề nghị lên đức Phật. Bấy giờ đức Thế Tôn mới chế định Giới luật.

 

Mặt khác, ngoại đạo đương thời cũng đã sớm đặt ra các giới điều, mặc dù đó là “giới cấm thủ”. Nhưng sự tu hành và đạo đức của họ lại được kiến lập trên cơ sở giới điều ấy. Tâm tín kính của đồ chúng ngoại đạo dựa vào đó mà phát sinh. Phật giáo trong hoàn cảnh như vậy, nếu không được chế định Giới luật thì không được.

Tóm lại, Giới luật được hình thành do bên trong có nhu cầu thiết yếu, bên ngoài có sự thúc bách đòi hỏi mà phát sinh. Không chế định Giới luật thì mọi sinh hoạt, quan hệ của cá nhân và tập thể không có chuẩn mực để dựa vào. Đến ngay như các vị A-la-hán cũng không thể hoàn toàn tự lo liệu, sắp xếp cho ổn thỏa được. Đây chính là lý do căn bản trọng yếu của việc chế định Giới luật Phật giáo.

Đức Phật là bậc Nhất thiết trí, ngài tuy biết cần phải chế định những Giới luật nào, nhưng ngài quyết chẳng bao giờ chế định trước với nguyên tắc “có phạm mới chế, không phạm không chế”. Điều này có hai lý do:

  1. Một là biểu thị tính dân chủ: Nếu như không phạm mà chế, các đệ tử tất nhiên phải tuân thủ nhưng việc đó không xuất phát từ nhu cầu và ý chí của đại chúng mà xuát phát từ sự cưỡng chế của đức Phật. Cho nên nguyên tắc “phạm tội mới chế” là xuất phát từ nguyện vọng của đại chúng trong Tăng đoàn. Căn cứ vào sự ghi chép trong Luật tạng thù đức Phật chưa từng chủ động chế định một điều giới nào. Chẳng qua vì có người phạm lỗi, mắc sai lầm, bị sự chê trách của người đời, rồi các vị đệ tử thiểu dục tri túc có tàm quý, thấy bức xúc về điều đó đến trình bày với Phật, đức Phật liền tập hợp đại chúng để xem xét sự việc một cách thấu đáo rồi nhân đó mới chế giới. Vì thuận theo yêu cầu của đại chúng, đức Phật còn đem những điều giới đã chế định tu chỉnh, sửa đổi lại tùy theo tình hình thực tế đòi hỏi. Đây là biểu hiện tinh thần dân chủ một cách đầy đủ nhất.
  2. Hai là tôn trọng nhân cách của đệ tử: đức Phật tuyệt nhiên không muốn các đệ tự có sự lầm lỗi. Những người hảo tâm xuất gia, tự bản thân họ cũng không muốn Tăng đoàn có người phạm tội, đây là nhu cầu của lòng tự trọng. Nếu đức Phật dự bị chế giới trước thì điều đó biểu thị sự áp đặt và coi thường nhân cách của đệ tử. Vì sao? Vì điều đó khẳng định chắc chắn rằng đệ tử sẽ có lỗi lầm, sẽ xuất hiện sai phạm. Sự kiện đó sẽ gây cho Tăng đoàn sự bất an, thậm chí làm cho người phạm tội cảm thấy nặng nề như chồng thềm một lớp xiềng xích. Do vậy, có phạm sai lầm rồi mới chế giới là xuất phát từ sự nhu cầu bức thiết, từ thực tế đòi hỏi chứ không phải từ sự cưỡng chế một cách vô căn cứ.

Tóm lại, việc chế giới nhìn trên bề mặt là ý chí của đức Phật nhưng thực tế lại là mong muốn chung của đại chúng trong Tăng đoàn. Đức Phật chỉ là người chủ trì hoặc là người chứng minh trong quá trình chế giới. Đó chính là sự biểu thị tính dân chủ và tôn trọng nhân cách hết sức vĩ đại của đức Phật.

  1. Mục đích chế định Giới luật

Đức Thế Tôn vì muốn cho Phật pháp trụ lâu dài ở thế gian nên chế định Giới luật. Nhưng việc chế định Giới luật dựa trên nguyên tắc “có phạm mới chế, không phạm không chế”. Cho nên Giới luật ra đời nhằm đúng lúc trong Tăng đoàn phát sinh hành vi tội lỗi mà thiết lập. Nếu trong Tăng đoàn không có hành vi xấu ác thì chắc chắn không có Giới luật.

Mục đích chế định Giới luật là nhằm đoạn diệt phiền não, trừ bỏ các bất thiện pháp, phát huy thiện pháp nhằm đạt đến mục đích tối hậu của sự tu hành đó là giải thoát – Niết bàn. Mặt khác chế định Giới luật là nhằm đến việc duy trì kỷ luật và sự thuần khiết của Tăng đoàn, cũng như bảo đảm sự trường tồn của chính pháp. Do đó trong Giới luật có trường hợp vì ngăn ngừa đình chỉ phiền não và các ác pháp nên chế định, ngoài ra cũng có trường hợp vì sự cơ hiềm của người đời, của xã hội mà thiết lập.

Trước khi chế định bất kỳ một điều giới cụ thể nào đức Thế Tôn đều nêu mục đích của việc chế định thông qua Thập  cú nghĩa hay mười điều lợi ích mà Giới luật hướng tới, đem lại.

  1. Vì nhiếp thủ chúng tăng.
  2. Làm cho Tăng hoan hỷ.
  3. Làm cho Tăng an lạc.
  4. Làm cho người chưa tin phát sinh niềm tin.
  5. Người đã tin làm cho lòng tin càng tăng trưởng.
  6. Người khó điều phục, khiến cho người được điều phục.
  7. Người biết hổ thẹn được an vui.
  8. Đoạn phiền não trong đời hiện tại.
  9. Đoạn hết phiền não trong đời vị lai.
  10. Làm cho chính pháp được tồn tại lâu dài.

Bản ý của đức Phật chế giới là làm cho chính pháp cửu trụ, nhưng động lực làm cho chính pháp cửu trụ chính là Tăng đoàn mà thành phần tạo nên Tăng đoàn chính là cá nhân các Tỷ – khiêu. Nếu Tăng đoàn không được kiện toàn thì cũng không đủ để Phật pháp cửu trụ và sách tiến lòng tin đối với xã hội. Như vậy 10 cú nghĩa này chính là mục đích căn bản của Phật khi chế giới và cũng là 10 điều lợi ích mà Giới luật đem lại cho người xuất gia thụ giới, trì giới.

Nhờ nghiêm trì Giới luật nên có thể đoạn trừ được hữu lậu trong hiện tại và vị lai, có thể dựa vào đó để bảo vệ người có tàm quý, có thể trị phạt, chế ngự hay đuổi đi những kẻ khó điều phục. Tăng đoàn nhân đó được kiện toàn, tự nhiên có thể làm cho người đời chưa tín ngưỡng Phật pháp phát sinh tín tâm, người đã tin thì lòng tin càng trở nên kiên cố. Tăng đoàn thanh tịnh, tín chúng thêm nhiều, sự giáo hóa và chính pháp của đức Phật có thể phổ biến khắp mọi nơi, như vậy có thể đạt thành mục đích làm cho chính pháp cửu trụ.

Tóm lại, mục đích của việc chế định Giới luật về phương diện cá nhân khiến cho các Tỷ – khiêu yên ổn tu tập, đoạn trừ phiền não chứng nhập Niết – bàn. Về phương diện đoàn thể là duy trì ổn định và phát triển Tăng đoàn nhằm đén mục tiêu cao nhất là sự trường tồn của chính pháp.

  1. Sự hình thành Luật tạng

Sự trọng yếu của Giới luật có quan hệ đến sự tu trì của cá nhân, sự hòa hợp của Tăng đoàn, sự giáo hóa người đời, sự hưng thịnh của Phật pháp. Cho nên nói: “Tỳ-ny tạng là thọ mệnh của Phật pháp, Tỳ-ny tạng trụ, Phật pháp cửu trụ”.

Trước khi nhập Niết – bàn đức Phật thường căn dặn các đệ tử: “Tỷ – khiêu các ông! Nên tôn trọng quý kính Ba-la-đề-mộc-xoa như mù tối được mắt sáng, như người nghèo được của báu, phải biết Tinh giới là đức thầy cao cả của các ông, nếu ta ở đời thì cũng không khác gì vậy” (Kinh Di giáo). Sau khi đức Phật diệt độ, tôn giả Ca-diếp nói với chúng Tỷ – khiêu rằng: “Việc cúng dàng nhục thân xá lợi của đức Thế Tôn là việc làm của vua quan nhân dân…, còn công việc của chúng ta là cúng dàng pháp thân xá lợi, cho nên trước hết phải kết tập pháp tạng, chớ để Phật pháp sớm hoại diệt“.

Ma Ha Ca Diếp tôn giả

Ngay mùa hạ đầu tiên ấy, Tôn giả Ca-diếp đã tập hợp 500 vị A-la-hán kết tập pháp tạng tại hang Thất Diệp phía Bắc thành Vương Xá. Trước hết tôn giả Ưu-ba-ly kết tập Luật tạng, Tôn giả A-nan kết tập Kinh tạng. Tôn giả Ưu-ba-ly 80 lần lên tòa tụng lại những điều mà đức Thế Tôn chế định về Giới luật, hình thành lên bộ luật đầu tiên của Phật giáo đó là Bát thập tụng Đại Tỳ-ny tạng.. Đây là bản gốc của các bộ Giới luật về sau.

Cho đến khi đức Phật diệt độ hơn 100 năm thì xuất hiện sự phân chia các bộ phái, mới có các bộ Luật khác nhau. Nhưng sự phân chia bộ phái đầu tiên cũng bắt nguồn từ sự kiến giải khác nhau về Giới luật như cuộc kết tập lần thứ hai vào thời vua A-dục (Asoka), do 10 sự phi pháp của các Tỷ – khiêu Bạt – kỳ ở thành Tỳ-xá-ly mà phát sinh. Song thực tế, ngay trong cuộc kết tập lần thứ nhất cũng đã bất đồng về Giới luật.

Trong Quảng Luật có ghi lại rằng: Sau khi cuộc kiến tập ở trong hang Thất Diệp đã kết thúc, Tôn giả Phú-lâu-na mới đến thành Vương Xá và nêu ra tám việc liên quan đến Giới luật như việc để thức ăn qua đêm, nấu ăn ở trong giới… Tôn giả Phú-lâu-na cho rằng những điều đó trước Phật cấm chế, sau đó lại khai cho. Còn Tôn giả Ca-diếp lại bảo trước khi khai cho, sau thì ngăn cấm. Kết quả là mỗi vị thực hành theo quan điểm riêng của mình.

Mặt khác ngay khi kết tập pháp tạng Tôn giả A-nan từng nêu ý kiến: “Đức Phật có dạy: Đại chúng nếu muốn có thể bỏ bớt những điều nhỏ nhặt“. Do vậy mà xảy ra sự tranh luận không dứt về việc thủ xả đối với những điều Phật chế. Cuối cùng Tôn giả Ca-diếp phải tuyên bố: “Những điều Phật chưa chế không được tự tiện chế thêm, những điều gì Phật đã chế không được thay đổi.” Do đó có thể thấy mầm mống bất đồng về nhận thức Giới luật đã có từ cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất, nhưng do Phật mới nhập diệt, sự bất đồng không sâu sắc và các đại đệ tử của Phật vẫn còn nên chưa phân chia thành bộ phái mà thôi. Phật diệt độ 100 năm, Phật pháp dần dần bị phân chia thành 2 bộ, rồi 5 bộ, 20 bộ, thậm chí 500 bộ.

II.QUÁ TRÌNH PHÂN PHÁI VÀ THÀNH LẬP CÁC BỘ LUẬT TẠI ẤN – ĐỘ

Phật giáo nói về nhân duyên, một số duyên đã khởi thì lại có các nhân duyên khác ứng theo, vì vậy chắc chắn sẽ sản sinh ra hiện tượng Hợp, Ly, Tụ, Tán. Luật tạng của Phật giáo tự nhiên cũng khó thoát khỏi phạm trù của quy luật này. Cho nên từ Tôn giả Ưu-ba-ly kết tập Bát thập tụng về sau các Tôn giả lần lượt truyền thừa trong khoảng 100 năm đều đảm bảo thống nhất không có sự phân chia. Theo quan điểm của Bắc truyền Phật giáo thì bắt đầu từ Ca-diếp dến A-nan, Thương-na-hòa-tu, Mạt-điền-địa, năm đại Tôn giả thay nhau truyền thừa. Còn quan điểm của Nam truyền Phật giáo thì năm vị đó là Ưu-ba-ly, Đà-tả-câu, Tô-na-câu, Tất-già-phu và Mục-kiền-liên Tử-đế-tu, Cho đến hơn 100 năm sau làm hai bộ là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ; tiếp theo đó lại phân chia thành năm bộ phái là bộ Tát-bà-đa (Luật Thập tụng), bộ Đàm-vô-đức (Luật Tứ phận), bộ Đại chúng (Luật Tăng-kỳ), bộ Di-sa-tắc (Luật Ngũ phận) và bộ Ca-diếp-di (Luật giải thoát). Tiếp đó trong khoảng từ 200 đến 400 năm sau Phật nhập tọa và Đại chúng được phân thành 18 bộ phái, hợp với hai bộ gốc tạo thành 20 bộ phái khác nhau.

Nói đến 20 bộ phái: Trong khoảng 100 năm thứ hai Phật Niết – bàn, từ Đại chúng bộ lại chia ra làm ba bộ là: 1. Nhất thuyết bộ; 2. Thuyết xuất thế bộ; 3. Ke dận bộ (Khôi sơn trụ bộ), tiếp theo đó lại chia ra một bộ nữa là: 4. Đa văn bộ sau đó lại chia ra một bộ là: 5. Thuyết giả bộ. Đến khi hết 100 năm thứ hai sau Phật diệt độ, trong Đại chúng bộ nổi lên sự kiện tranh luận về năm điểm của Đại Thiên mà chia ra ba bộ nữa là: 6. Chế đa sơn bộ; 7. Tây sơn trụ bộ; 8. Bắc sơn trụ bộ.

Như vậy trong khoảng 200 năm sau Phật diệt độ (trong thời gian hơn 100 năm) là thời lỳ phân phái của Đại chúng bộ chia thành 8 bộ, hợp với bộ gốc Đại chúng bộ là 9 bộ.

Thượng toạ bộ phải đến 300 năm sau Phật diệt độ mới nổi lên sự tranh chấp, cũng phân hóa mà phát sinh, chia ra thêm thành một bộ là Nhất thiết hữu bộ (Bộ Tát-bà-đa). Bộ gốc Thượng toạ bộ dời đến ở núi Tuyết Sơn, đổi tên thành Tuyết sơn bộ. Sau đó không lâu từ Nhất thiết hữu bộ lại chia ra một bộ là Độc tử bộ. Sau đó từ Độc tử bộ lại chia ra thành bốn bộ là: 1. Pháp thượng bộ; 2. Hiền trụ bộ; 3. Chính lượng bộ; 4. Mật lâm sơn bộ. Lại không bao lâu sau từ Nhất thiết hữu bộ lại chia ra một bộ là Hóa địa bộ. Từ Hóa địa bộ chia ra một bộ là Pháp tạng bộ (Bộ Đàm-vô-đức).

Đến cuối 100 năm thứ 3 sau Phật nhập Niế – bàn, từ Nhất thiết hữu bộ lại chia ra một bộ là Ẩm quang bộ (Ca-diếp-di). Đến đầu 400 năm sau Phật nhập Niết – bàn, từ Nhất thiết hữu bộ lại chia ra một bộ nữa là Kinh Lượng bộ.

Như vậy trong khoảng hơn 100 năm (từ 300 đến 400 năm sau Phật Niêt – bàn) là thời kỳ phân chia bộ phái của Thượng tọa bộ, từ bộ gốc chia thành 10 bộ:

Nhìn chung, bất kỳ một tôn giáo nào đều phải thích ứng với hoàn cảnh xá hội, mới có thể phát huy giáo nghĩa một cách sâu rộng. Phật giáo vốn từ một tôn giáo địa phương mà phổ cập đến nhiều quốc gia, dân tộc có ngôn ngữ và tập tục khác nhau hiển nhiên sẽ không thể giữ nguyên hình thức ban đầu. Cho nên đối với sựu giải thích giáo nghĩa phải có thêm sắc thái địa phương khu vực là điều không sao tránh khỏi. Như thế cái gọi là phân chia bộ phái, điều đó bao hàm ý nghĩa có tính chật hệ phái địa phương, đấy là sự thật không thể phủ nhận.

TS.Thích Tiến Đạt (Trích đăng từ Tạp chí Khuông Việt số 4)

 

Bình luận
Tin cùng chuyên mục