Tâm bao dung thì trí tuệ phát sáng

Ngã – chấp là ngọn núi che chắn mặt trời trí tuệ trong chân tâm. Ta không tin sự bao dung của tâm trước thế giới chính là biên độ rộng lớn của trí tuệ.

Tâm bao dung sẽ tương ứng với những “chúng sanh” cõi trên và “chúng thánh”; việc bạn có tâm bao dung rộng lớn dĩ nhiên sẽ nhận được năng lượng thiêng liêng – là điều không khó hiểu. Và sự bao dung ấy lẽ nào không phải trí tuệ. Cái trí tuệ này soi ngược lại sẽ thấy ngay ở những người đầy mình danh vị và học hàm cũng đâu dễ có. Hơn thế, mỗi người đều chứa vô số chương trình tâm thức được cài sẵn từ muôn kiếp, hễ bây giờ gặp duyên đồng hợp sẽ khởi, tạo nên muôn vàn sai khác về sở thích, quan niệm, tư tưởng, đường hướng trong sự bình đẳng với nhân duyên tạo nên vận mạng của họ.

Ngã – chấp là ngọn núi che chắn mặt trời trí tuệ trong chân tâm. Ta không tin sự bao dung của tâm trước thế giới chính là biên độ rộng lớn của trí tuệ. Ta chấp chặt thành kiến rằng bậc trí là người… có tri thức, tức không phải là người lao động bình thường. Nhưng ta không biết rằng trí tuệ không phân biệt ngành nghề. Một người với tâm bao dung rộng lớn, mỗi ý niệm cho đến hành động đều vì người trước hết, trí tuệ của họ phát sáng. Sự phát sáng tự nhiên này khiến tầng tâm linh của họ đã nâng lên do đó vận mạng họ tương ứng với những cảnh giới cao hơn. Dẫu họ ở ngành nghề hạ đẳng thì trí tuệ thông qua sự bảo bọc của trường năng lượng tịnh sẽ khiến họ nhận được hạnh phúc trong chính công việc và đương nhiên đồng nghiệp và người thân của họ sẽ ân hưởng ít nhiều. Sự tiến hóa của đời người chính là nâng lên từng bậc tâm linh, tức mức tin nhận và hành trì giáo lý qua hàng ngàn năm càng chói sáng, chứ không phải ta đầy đủ danh vị, tiền tài, sự trọng vọng từ khắp thế giới nhờ vào lượng tri thức rồi viết ra những tác phẩm “lớn”. Điều này sẽ đúng nếu họ đồng thời đang tin, hiểu, và hành thánh huấn; còn khi họ gạt thánh huấn, thực ra họ đang đào giếng lại mong thông đến đại dương.

Thế giới tâm linh mầu diệu, nó sẵn trong mỗi kiếp người. Nhưng ta bị sở tri chướng ngại, bị tự ngã lường gạt, không mở được tuệ giác ngoại trừ thực hành giáo pháp. Người đã thấm Đạo và đang tiến trình ly khổ đau, họ sẽ hiểu học thông minh thì dễ, học hơn người cũng khá dễ; còn học cho ra “gã khờ”, khó thay! Ngoài con đường hành chánh đạo, các vị thánh chưa tìm ra con đường nào khác để có thể khiến tôi và ai đó không hướng về ngõ luân hồi.

Chúng ta không thể thường hằng vì sống trái với những quy luật thường hằng, nên tạo nên hố thẳm khôn cùng và điều này được gọi với khái niệm chết. Ta bị lôi dẫn về miền tối bởi tâm vọng, bởi ý thức phân biệt chấp trước khi giác quan tiếp xúc trần cảnh, tạo nên những nút thắt trong chiều thời gian ảo. Mỗi ta dẫu thiên tài vẫn đang sử dụng phần thô mộc của kiếp người vô ngần quý giá và hiếm gặp cơ duyên tin hiểu thánh huấn. Kiến giải sai lầm là gốc khổ đau. Tôi và bạn như hai hình nộm tự nhận và đang tập khiêu vũ trong lâu đài ảo ảnh. Cái thấy từ đôi mắt hình cầu như gương lồi bởi định nghiệp giống loài không thể đúng sự vật hiện tượng. Và do vậy ta nên cùng lần theo những dấu chân hiếm hoi không hướng về tuyệt lộ.

Tôi và bạn đều muốn quay về dĩ vãng lắm song vô thường biến hoại lại chính là chân lý! Rất nhiều lần tôi ngang qua quán cà phê Hatdore ngày trước, nhìn vào vẫn nghĩ nó còn đó, thường ngồi bên này nhìn qua ngôi nhà thờ trầm mặc. Và khi biết có bạn cùng mọi người cũng hay ngồi đó thì câu chuyện mộng mơ kia biến mất với cái quán ấy. Rồi nhiều nữa… Bạn nói rằng đôi lúc cứ nghĩ có phải đang sống giả không?, cười nói với bạn đó mà trong tâm nó… cô đơn. Ờ, dường như, nếu ta có cơ hội tiến lên một bước, thì phải để lại những thứ rất muốn mang theo dẫu nó là ảo ảnh… Tôi và bạn có bệnh hiểm sâu nơi tâm thức, là ta không tin Chúa, Phật ở trong mình, ngày đêm kết thân với tham sân kiêu mạn, khước từ hành theo thánh huấn.

Hướng vào nội tâm quán chiếu, thảy vọng trần chỉ là những chương trình nghiệp thức được nhập dữ liệu đúng lúc và nó đang chạy để rồi kết quả biểu hiện lên hành vi (với ta). Ta phải thấy được những khởi sinh sâu trong tâm và vỗ về nó như những cơn sóng bệnh của chính mình, không của ai và không do ai. Bởi nếu ta không thực hành quán điều này tan đi như mây huyễn, rồi sẽ có lúc gặp những điều tồi tệ hơn, tạo nên những chấn thương tâm lý quá lớn sẽ khiến ta sụp đổ.

Ta không thấy khổ là do ma nghiệp sai sử. Bạn tu tôi là một hành giả lui cui trong bếp. Bạn nói có lần ngồi yên lặng bên thầy mấy tiếng không thấy thầy mở nửa chữ, liền dấy bực; bạn tưởng đến rằng hôm nay thầy ra đề khó như vậy, ngày mai ngày kia sẽ khó hơn nữa, khổ tâm hơn nữa, sẽ phiền não hơn như vậy như vậy. Rồi bạn tu chợt hiểu, nếu ngay lúc này không phiền não lấy gì ngày mai phiền não; ngay bây giờ là hiện tại, và ngày mai cũng là hiện tại [của ngày mai]. Hiện tại không phiền não thì bất cứ lúc nào cũng là hiện tại, có đâu phiền não. Miễn là Thầy đã ở bên mình, mãi mãi. Bạn tu, ít nhất là rất nhạt tham sân si mạn nhờ chuyên trì niệm một câu kinh. Kể cả lúc nói chuyện, tôi cảm giác câu kinh ấy đang được tự tâm của bạn vang vang và tánh giác nghe trọn từng chuỗi kết nối. Đó chính là thực tại duy nhất. Cái thực tại duy nhất (là câu kinh duy nhất đang được trì niệm vang vang như chuông), lúc mới tập niệm thì loãng như nước lã, thời gian lâu dần đậm lại như bột được cho vào nước và người niệm cảm giác như đang khuấy bột, càng khuấy nước càng quyện lại. Bạn tu có những lần ngồi cùng tôi và bè bạn suốt buổi không nói một câu, hẳn là đang nghe âm ba câu kinh diệu mầu. Mọi thông tin thoảng qua tai và trôi về đâu như mây huyễn, bạn cũng đang nghe chung quanh luận Phật pháp mà bạn như người không hề biết mít xơ gì về Phật pháp, cứ im lặng với tự tâm khởi niệm câu kinh và đó chính là thực tại duy nhất của bạn. Những lời Pháp dòng kinh cứ hiển hiện như hoa nở trên màn hình siêu nét khi tương duyên bên ngoài, chúng cứ lội qua mặt phẳng cái biết của bạn. Thậm chí tai bạn nghe người bên đang hãnh diện về sự uyên thâm Phật pháp trong lúc họ nói trật lất, bạn vẫn bố thí niềm vui ấy cho người, ngắm nghía những kinh những pháp lội qua cái biết; bạn vẫn chìm sâu lắng nghe diệu âm của câu kinh duy nhất. Tôi thì bên ngoài gặp thanh sắc hương vị xúc pháp, tâm ý thức hiện ứng vọng và tưởng cảnh, cứ thế tuôn trào ý niệm, tuôn trào khẩu nghiệp, không hề muốn buông tâm ý thức để trở về

Bạn tu tôi thực hành một câu kinh và dường như khởi “nghi” về tâm chấp trước khiến bước chân trở về miền tịnh chướng ngại. Tôi nhớ đến cuộc bạn mời đồng nghiệp trong cơ quan cà phê, thấy mỗi người thích uống một loại, và trong một loại cũng đã khác màu sắc. Nếu “chủ nhân” không khởi tâm phân biệt từ loại nước uống của mình rồi phủ chụp lên người khác kể cả giá tiền rẻ đắt. Ngay chỗ này đã lộ ra chân lý; từ đây mà suy rộng rồi đưa vào trong đời sống quán chiếu, không chừng hành giả nào đó sẽ thông qua ta bà mà ít bị trần cảnh vướng víu. Cảm nghiệm tự thân thấy pháp vốn là đời sống. Những chân lý cao siêu sẵn có trong trời đất, ai nâng được mình lên giữa đời sống thường tục trên cơ sở hóa giải dần tham lam, sân giận, si mê, lòng kiêu mạn sẽ nhận diện được ít nhiều.

Từ sự tu học, chợt thấy chỗ cao diệu của pháp là phá ngã-chấp. Song mọi vật cản sanh từ ngã chấp luôn khiến hành giả hướng đến chỗ “nghi”, dĩ nhiên là chánh nghi, sự chánh nghi cho thấy một “vùng tối” mênh mang phía trước không thể giải mả mà chỉ khiến càng nghi, nghi đến tưng tức như quả bom muốn bung mình… Có chấp mới sanh ngã. Mọi pháp môn đều hướng về con đường vô ngã, muốn vậy thì phải phá chấp. Phá chấp là nhiên liệu phá nghi trong sự “tuyệt vọng”. Phá chấp cũng là một mệnh đề lớn, đòi hỏi người tu học bồi căn nền từ từ, như tu phước đức, rồi chọn pháp môn hành chuyên (đơn cử như niệm Phật); trên cơ sở tu pháp Nguyên thủy, đặc biệt như Tứ niệm xứ, quán pháp vô ngã, thân vô thường, quán bất tịnh v.v, để bớt chấp trước thân huyễn tâm vọng, vì vố dĩ là như vậy, sự thật là như vậy. Con người yêu mến quá thân huyễn tâm vọng, yêu mến tài danh thực thùy do không thấy sự thật của ngã chấp ẩn trong đó… Cuộc sống trở nên bình thường hơn khi ta tập sống với Thập thiện, với giới luật và bớt chấp trước hơn. Một cá nhân chưa thấm điều này thì học những điều nhiệm màu đa phần có hại. Ngay những dòng chữ mang danh gửi gắm tư tưởng Phật giáo, không chừng tôi sẽ rơi vào cơn tham và nỗi si mê khác.

Lánh điều ác hành điều thiện là bước đầu tiên và cũng xuyên suốt kiếp người. Đời sống ở các ngành nghề thiện đều có cơ may hướng ta về nẻo sáng, song nó vẫn là nhiên liệu của guồng quay luân hồi nếu giúp tăng thượng mạn và niềm đam mê. Với tâm chân thành trước bất cứ sự nhỏ mọn nào, là bản thân người viết mong nhận được sự dạy dỗ của các minh sư. Bởi lẽ vô vàn hóa thân của đức Phật và Bồ tát, như trong nhiều bộ kinh đã nói, họ luôn ở trong đời sống thường tục để thức tỉnh người hữu duyên.

Nhuỵ Nguyên

Bình luận
Tin cùng chuyên mục