Nhận diện địa văn hóa Phật giáo vùng Tây Yên Tử
Có nhiều cách thức để nhận diện cơ sở địa – văn hóa Phật giáo vùng Tây Yên Tử trong tổng thể cảnh quan quần thể di tích – danh thắng Yên Tử mà cả hai tỉnh Bắc Giang – Quảng Ninh đang chung tay xây dựng, hướng đến đề nghị tổ chức Văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Sách Thiền uyển tập anh (1337) ghi nhận chuyện thiền sư Ẩn Không từng trụ trì ở huyện Na Ngạn thuộc châu Lạng, người đương thời thường gọi là Na Ngạn đại sư. Không rõ tiểu sử Na Ngạn đại sư thế nào, chỉ biết ông là đệ tử thiền sư Thần Nghi (?-1216) – một trong những vị cuối cùng của thiền phái Vô Ngôn Thông đời Lý[1]. Đất Na Ngạn sau đổi thành Lục Na, chủ yếu thuộc địa phận các huyện Lục Nam – Lục Ngạn – Sơn Động (Bắc Giang) ngày nay. Thực tế nói trên cho phép khẳng định Phật giáo đã phát khởi trên vùng rừng núi Tây Yên Tử chí ít cũng vào khoảng thời nhà Lý (1010-1225). Miền đất non cao rừng thẳm ấy, đặc biệt phía bên kia sông Lục Nam, chỉ mới cách đây non một thế kỷ, vẫn còn rất nhiều các loài hổ, báo, gấu, hươu, nai, lợn rừng…
Có nhiều cách thức để nhận diện cơ sở địa – văn hóa Phật giáo vùng Tây Yên Tử trong tổng thể cảnh quan quần thể di tích – danh thắng Yên Tử mà cả hai tỉnh Bắc Giang – Quảng Ninh đang chung tay xây dựng, hướng đến đề nghị tổ chức Văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa thế giới. Trên cơ sở những dấu tích văn hóa vật thể và cả phi vật thể hiện còn, chúng ta có thể hình dung được tương đối chắc chắn diện mạo nền văn hóa Phật giáo vùng Tây Yên Tử. Đặt trong một sự đối sánh có thể thấy rằng con đường tâm linh phía Đông Yên Tử phát đạt hơn với đường giao thông đường bộ và đường sông tương đối thuận lợi, địa hình tương đối bằng phẳng và cư dân cũng đông đúc hơn. Chính vì thế mà ngay cả khi chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng – Bắc Giang) trở thành một trong những tổ đình quan trọng trong thiền phái Trúc Lâm thì mật độ các ngôi chùa vẫn phân bổ trải dọc về phía Đông Yên Tử nhiều hơn. Từ đây có thể coi chùa Vĩnh Nghiêm như điểm nối của ba trung tâm Phật giáo Thăng Long – Vĩnh Nghiêm – Yên Tử, trong đó phát triển theo hai ngã rẽ quan trọng: Vĩnh Nghiêm – Đông Yên Tử và Vĩnh Nghiêm – Tây Yên Tử…
Ghi nhận thực tế nói trên để nhận diện cho đúng cơ sở địa – văn hóa Phật giáo vùng Tây Yên Tử với tất cả những đặc điểm riêng, trong đó có sự phát triển nội tại ngay từ thời Lý – Trần, có xu thế tiếp nối và định hình bền vững trong nhiều thế kỷ sau đó, đồng thời đặt trong tầm nhìn của con người hiện đại về một con đường tâm linh kết nối bản sắc ngàn năm văn hóa Phật giáo dân tộc. Chính với cách nhìn ấy mà chúng ta càng thấy rõ và trân trọng hơn những giá trị văn hóa Phật giáo vùng Tây Yên Tử mà cha ông đã vượt qua biết bao gian khó, nhiều đời tiếp nối tạo dựng, phát huy, phát triển cho đến ngày hôm nay. Trước hết, có thể hình dung lược đồ về một con đường tâm linh Tây Yên Tử 293 với sự khởi nguồn từ chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) lan tỏa đến những ngôi chùa cổ như chùa Chản – Phúc Nghiêm thuộc xã Yên Sơn, chùa Cao thuộc xã Khám Lạng, Bình Long thuộc xã Huyền Sơn, Yên Mã thuộc xã Bắc Lũng, Sơn Tháp thuộc xã Cẩm Lý, Đọ thuộc xã Cương Sơn, Tòng Lệnh thuộc xã Trường Giang, Hồ Bấc – Suối Mỡ thuộc xã Nghĩa Phương, Đồng Vành – Vua Bà thuộc xã Lục Sơn (Lục Nam) rồi đến cụm chùa Trình, chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng – Kim Quy thuộc xã Tuấn Mậu (Sơn Động)[2]…
Từ thực tế nêu trên có thể tính đến các điểm nhấn của con đường tâm linh Vĩnh Nghiêm – Tây Yên Tử. Nói riêng chùa chùa Vĩnh Nghiêm (Đức La, chùa La), nằm trên một quả đồi thấp thuộc xã Trí Yên (huyện Yên Dũng), có từ đầu thời vua Lý Thái Tổ (ở ngôi 1010-1028). Đến thời vua Trần Thái Tông (ở ngôi 1226-1258) và Trần Thánh Tông (ở ngôi 1258-1278), chùa được tu sửa và có nhiều vị cao tăng nối tiếp trụ trì. Đặc biệt sang thời vua Trần Nhân Tông (ở ngôi 1278-1293) đã từ bỏ ngôi vua, lên làm thái thượng hoàng rồi xuất gia tu hành và sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Điều đáng lưu ý là cả tam tổ gồm đệ nhất tổ Trần Nhân Tông cùng đệ nhị tổ Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284-1330) và đệ tam tổ Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254-1334) đều từng đến chùa Vĩnh ghiêm thụ giới, kiết hạ, giảng kinh, hoạch định tổ chức nhân sự, hoằng dương Phật pháp. Không ngại suy diễn, nói quá về Vĩnh Nghiêm như thanh bình như cõi Phật, một cảnh chùa tiêu biểu cho vùng Kinh Bắc thượng trong bài thơ Lạng châu vãn cảnh (Cảnh chiều ở châu Lạng) của đức Phật hoàng Trần Nhân Tông: Cổ tự thê lương thu ái ngoại,/ Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ./ Thuỷ minh sơn tĩnh bạch âu quá,/ Phong định vân nhàn hồng thụ sơ (Ngôi chùa cổ lạnh lẽo sau lớp khói mùa thu,/ Thuyền câu hiu quạnh chuông chùa bắt đầu điểm./ Nước trong, núi lặng, chim âu trắng bay qua,/ Gió im, mây nhởn nhơ, cây lơ thơ lá đỏ)[3]… Nhìn rộng ra, có thể xác định mối liên hệ xa gần giữa tên chùa tổ Vĩnh Nghiêm với tên chùa Phúc Nghiêm, tên Nôm là chùa Chản (xã Yên Sơn, huyện Lục Nam) và từ lâu đã được coi là những trung tâm Phật giáo danh tiếng của thiền phái Trúc Lâm. Một liên kết khác là di tích chùa Đồng Vành giữa rừng Họ, nằm sâu bên chân núi Yên Tử. Tương truyền trước khi lên tu trên núi Yên Tử, đức vua Phật Trần Nhân Tông từng dừng chân lại nơi đây. Rồi sau có công chúa triều Trần ở lại tu hành và thác tại rừng Vua Bà (xã Trường Sơn, huyện Lục Nam). Rồi lại thêm những liên kết khác như dấu tích chùa cổ Am Vãi, đặc biệt là quần thể chùa ở tột đỉnh vùng cao xã Tuấn Mậu (huyện Sơn Động) tiếp nối với chùa Đồng và nơi tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông trên núi Yên Tử… Trải qua ngàn năm lịch sử, con đường tâm linh Phật giáo phía Tây Yên Tử đã dần định hình những ngôi chùa, những đền miếu, những bản làng, những con đường và hệ thống truyền thuyết về các danh nhân Phật tử.

Nhà ga cáp treo Tây Yên Tử
Trên thực tế, đi theo con đường tâm linh Tây Yên Tử là hành hương đến cõi Phật, về với đất Phật nhưng cũng có sự dung hợp, đan kết, chuyển hóa của các yếu tố lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng bản địa (Nho giáo, Đạo giáo, lễ hội, lễ cấp sắc, thờ mẫu, thờ thần hoàng, hát chầu văn, dân ca, giao duyên các dân tộc…) kết hợp thăm các điểm di tích, danh thắng, du lịch sinh thái, khu bảo tồn thiên nhiên và bản Mậu “gái đẹp tiến vua”… Ngày nay, trong điều kiện và vận hội mới, con đường tâm linh đã và đang được cụ thể hóa bằng chiến lược liên kết phát triển du lịch khu vực Tây Yên Tử lên một tầm cao mới, thiết thực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của miền quê từng là nơi “non cao rừng thẳm”…
Từ trước đến nay, mọi người chủ yếu biết đến phía đông, còn Tây Yên Tử với vị thế là vùng địa – văn hóa thì mới được đánh thức, khám phá, thức tỉnh, tìm đến trong khoảng mười năm gần đây, đặc biệt từ khi hoàn thành con đường tâm linh tỉnh lộ 293 dài 74km nối từ thành phố Bắc Giang đến Đồng Thông – Sơn Động… Trên thực tế, vùng văn hóa Phật giáo Tây Yên Tử trải trên một địa bàn rộng, bên cạnh tổ đình Vĩnh Nghiêm còn có tới 130 điểm di tích, trong đó có 26 di tích cấp tỉnh và cấp quốc gia. Trong giới hạn cụ thể, ở đây chúng tôi tập trung khảo sát vùng văn hóa tâm linh Phật giáo Tây Yên Tử theo tuyến tỉnh lộ 293, con đường thức tỉnh cả quá khứ và hiện tại, kích hoạt đời sống kinh tế và văn hóa, kết nối vùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn này với các huyện thị và vùng miền khác ở trong và ngoài tỉnh. Khách du ngày nay sau khi qua thăm chùa cổ Vĩnh Nghiêm sẽ theo tuyến đường tâm linh 293, dừng thăm đền Suối Mỡ, qua Mai Sưu, thẳng đến khu sinh thái Đồng Thông rồi leo dốc hoặc cáp treo khoảng 4km là đến chùa Đồng, đỉnh non Yên Tử.
Dọc tuyến đường từ thị trấn Lục Nam đến chân núi Yên Tử còn lưu lại nhiều dấu tích về con người và cuộc sống từ ngàn xưa. Quần thể di tích cổ nhất ở đây chính là khu đền Suối Mỡ thờ công chúa Quế Mỵ Nương, con vua Hùng Định Vương thứ IX, người có công đầu khai khẩn miền đất sơn khê, sau tích hợp với tín ngưỡng thờ mẫu và hiển linh Thánh Mẫu Thượng Ngàn. Ngay cửa đền Hạ hiện còn một cây đa và hai cây gạo cổ mới được trao bằng là cây di sản cấp Quốc gia. Sử sách cũng ghi nhận và thực tế làng Tòng Lệnh (Trường Giang) có thờ tướng quân Thân Cảnh Phúc – Vũ Công Thành và công chúa triều Lý (thế kỷ XI)[4]. Tương truyền vùng đất này từng là nơi Trần Quốc Tuấn lập bản doanh chống quân xâm lược Nguyên Mông (thế kỷ XIII) và còn để lại các địa danh Ba Dinh, Bẩy Nền, Bãi Quần Ngựa, Thao Trường Luyện Kiếm. Đặc biệt nơi đây còn có thành nhà Mạc (thế kỷ XVI) dài chừng 18km, nối từ núi Bảo Đài vượt qua sông Lục Nam, vượt qua làng Vườn, Hố Nước, đền Hàn Lâm rồi đến chân núi Mang thuộc dãy Huyền Đinh – Yên Tử. Người đi trên đường 293 dọc làng Quỷnh – Nghĩa Phương trông ngang bên kia cánh đồng còn thấy lờ mờ dấu tích thành xưa. Có thể nói từ thế kỷ XVI, theo dấu chân nhà Mạc, dân số vùng non cao này đã tăng lên đáng kể, hình thành nhiều thôn bản dọc theo các thung lũng, cánh đồng, suối nước, để lại nhiều điểm thờ tự đình, chùa, đền, miếu, nghè, điện. Theo các cụ cao niên kể lại, hồi đầu thế kỷ vẫn còn nhiều đình, chùa to lớn nổi tiếng ở làng Dùm, Gàng, Đối Sơn, Nhân Lý, Đám Trì…
Lại nói riêng chùa Đám Trì – Lục Sơn thuộc xã tận cùng non cao của huyện Lục Nam, cận kề chân núi Yên Tử. Cách đây vài bốn chục năm, thời chiến tranh chống Mỹ có trung đoàn 568 luyện quân giữa vùng rừng núi, cứ mấy tháng lại đưa tân bình vào Nam. Không ai ngờ vùng đất khỉ ho cò gáy, từng được mệnh danh là thủ đô lính Maisưugrattăckè ấy lại có ngôi chùa cổ đến thế. Vào năm 2014, Bảo tàng tỉnh Bắc Giang phối hợp với Viện Khảo cổ học đã khai quật và phát hiện được hơn hai ngàn cổ vật (vật liệu xây dựng, kiến trúc và trang trí bằng đất nung, gốm men, sành nâu, mảnh ngói mũi hài, lá đề, tượng thú, con kìm, con sấu…), xác định chùa Đám Trì có niên đại từ thời Lý – Trần và được tu bổ, tôn tạo nhiều lần vào thời Lê, thời Nguyễn.
Lại nhớ hồi năm 1996, tôi đã cùng nhà Hán học Nguyễn Văn Phong (nay là Tiến sĩ, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Giang) và một trai làng men theo triền Tây Yên Tử lên thăm chùa Hồ Thiên. Có chuyến đi này là bởi chúng tôi từng nghe bà con đi rừng kháo chuyện rằng đã từng đến chùa Hồ Thiên, vậy thử tìm đến tận nơi xem sao? Ba anh em mang theo cả gạo, nồi niêu, dao quắm. Anh Phong bảo: “Không cần mang theo thức ăn, quanh đấy đầy ếch, tha hồ ăn ếch núi!”. Trời hửng sáng, chúng tôi khoác ba lô nhằm hướng chân Yên Tử. Qua không biết bao nhiêu con suối. Mùa nước cạn, từng đàn bướm rập rờn. Hai bên rừng bạt ngàn những loài ràng ràng, thanh hao, sim cao vượt đầu người, cây sầm, sau sau, tầu tấu, tre, nứa… Lối mòn chỉ vừa bánh xe trâu, xe bò, xe quệt rồi ngày một nhỏ dần, mờ dần giữa cánh rừng đại ngàn. Qua lối rẽ ngã ba rồi lại một ngã ba. Sang chiều, ba giờ rồi bốn giờ. Cuối cùng chúng tôi biết mình lạc lối. Nhìn lên thấy vỉa đá cao chạy dài như thể bức tường thành. Hóa ra chúng tôi đi quá về bên phải, theo lối mòn người buôn trâu bên Đông Triều. Thế là phải đi ngược lại. Đêm ấy chúng tôi làm lán ngủ bên khe suối. Sáng hôm sau cứ men lối mòn đường trúc, dễ đi lắm. Sang chiều thì vượt bãi Bòng. Đã thấy dấu vết những lán trại, rồi ngược những thảm cỏ gianh, những đồi bạch đàn, keo lá mít xanh tốt. Đi một đoạn, vượt qua cánh rừng thưa và một khe nước thì tới nơi phế tích được gọi là chùa Hồ Thiên (Trù Phong Tự). Trời chiều âm âm, se lạnh. Chúng tôi đi thăm một lượt thì thấy có ngôi tháp đá cao chừng bảy tám tầng, có nhiều ngôi tháp gạch, có những tấm bia nhỏ ghi tên nhà sư vẫn còn niên đại đầu thế kỷ XIX, có những thanh đá xanh kê làm bậc cửa, những hàng chân cột đá theo hàng theo lối mà cây bằng cả người ôm đã mọc giữa nền nhà. Phía trên có nhà bia đá khắc đầy chữ Hán, to bằng cả mặt bàn, trộm nhớ đâu như do nhà biên khảo thần tích Nguyễn Bính soạn vào thế kỷ XVI. Xung quanh còn cả những cây khế trĩu quả, những cây chuối đã hóa thành chuối rừng. Có một cây tu hú to bằng cả người ôm. Lại có một cây thông mới bị cưa ngang, phần gốc đủ chỗ ngồi cho một mâm sáu. Sau này nghe nói nhóm người chặt cây thông cổ đã bị bắt vào tù. Chúng tôi chụp ảnh lia lịa. Chú Phong đi bắt ếch nhưng không được con nào. Đã cuối thu, ếch cũng tìm nơi trú đông cả rồi. Tối ấy ăn cơm với lạc rang, chuối rừng và khế rừng. Toàn đồ chay tịnh. Đêm nằm mé hang đá, bên đống lửa cháy rừng rực. Chuyện vãn đến khuya. Giấc ngủ chập chờn giữa tiếng gió rừng ù ù, tiếng một con tắc kè xa xa, một tiếng chim kêu khắc khoải. Lại mơ hồ mường tượng thấp thoáng bóng vị sư già từ ngôi tháp đi ra, từ khe nước đi lại, từ phía sân chùa đi ngang…

Khu du lịch tâm linh Tây Yên Tử
Từ thành phố Bắc Giang, đường tỉnh lộ 293 – đường tâm linh Tây Yên Tử có chiều dài toàn tuyến 74km. Nếu tính từ trung tâm huyện Lục Nam, tuyến đường chính này sẽ qua các điểm Suối Mỡ, Mai Sưu, Đám Trì, Đèo Bụt, Tuấn Mậu, Đồng Thông). Tuy nhiên, cũng tính từ huyện Lục Nam, còn có thể đến chùa Tây Yên Tử theo đường 31, qua Cầu Từ – Kim – Phượng Sơn, Quý Sơn, Chũ, Hồng Giang, Giáp Sơn, Tân Hoa, Biển Động (Lục Ngạn), vượt Cẩm Đàn, Yên Định, An Châu, từ đây theo đường quốc lộ 279 qua xã An Châu, An Lạc, Dương Hưu đến Thanh Sơn – Tuấn Mậu đều thuộc huyện Sơn Động… Từ góc nhìn địa – văn hóa có thể nhận thấy tuyến đường 31 làm thành một vòng cung (đối sánh với đường tâm linh Tây Yên Tử 293) cũng là miền đất địa linh nhân kiệt, có cảnh quan sinh thái kỳ vĩ, vùng đất cổ non cao với nhiều điểm di tích lịch sử, đền, chùa độc đáo. Xin nói thêm, sự khảo sát này chỉ bao theo tuyến đường 31 nối một phần quốc lộ 279 chứ không nhằm mô tả toàn bộ cơ sở địa – văn hóa hai huyện Lục Ngạn – Sơn Động…
Bên cạnh những đền miếu vọng thờ các thánh Cao Sơn, thánh mẫu, công chúa Mị Nương, Kim Chân đời các vua Hùng, hiện còn nhiều di chỉ khảo cổ, dấu tích văn hóa vật thể và hệ thống truyền thuyết nối dài các đời sau. Vào thời nhà Lý (1010-1225), vùng đất Động Giáp – Na Ngạn (Lục Ngạn) còn là miền non cao, biệt lập, xa trung tâm, dễ dẫn đến tình trạng cát cứ. Chính vì thế các vua nhà Lý đã tính đến việc cai trị và thu phục nhân tâm người vùng cao bằng cách gả công chúa, gây tình hòa hiếu với các phò mã như Thân Thiệu Thái, Thân Cảnh Phúc[5]. Dấu ấn văn hóa đời Lý thể hiện đậm nét với việc thờ tướng quân phò mã Thân Cảnh Phúc – Vũ Thành (người có công trong cuộc chiến chống giặc Tống, 1075-1077) dọc sông Nhật Đức – Lục Nam, đặc biệt ở đền Hả (xã Hồng Giang)… Tính đến nay trong tổng số 40 di tích lịch sử – văn hóa xếp hạng cấp tỉnh trên địa bàn huyện thì có đến một nửa xa gần liên quan đến việc thờ Thân Cảnh Phúc (thuộc các xã Phượng Sơn, Hồng Giang, Nghĩa Hộ, Chũ, Thanh Hải, Trù Hựu, Giáp Sơn, Biển Động); trong đó riêng xã Phượng Sơn có tới bảy điểm thờ (đình Kim, Ải, Chể, Từ Xuyên, Hạ Mã, đền Cầu Từ, đền và đình Bồng Lai). Sự tích và truyền thuyết về Thân Cảnh Phúc là cả một câu chuyện dài. Đền Hả đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia và tổ chức lễ hội hàng năm vào ba ngày 6-8 tháng Giêng, trở thành sự kiện văn hóa trọng đại của nhân dân trong vùng.
Vùng đất cổ Lục Ngạn còn được hiển thị bằng chùa Am Vãi – Am Ni (xã Nam Dương), tạm hiểu là chùa của sư nữ, ni sư. Không hiểu tại sao các sư nữ xưa lại tu nơi non cao núi thẳm này? Sách Thiền uyển tập anh chép truyện Đại sư Na Ngạn sống vào cuối thế kỷ 12, không rõ có tu quanh đây chăng? Chùa núi cao 700m trên mực nước biển, vào đầu thế kỷ trước vẫn còn hổ, báo. Nhìn bốn xung quanh là trùng trùng lớp lớp những núi, những đồi, cánh rừng, sông suối cuối triền Yên Tử – Đông Triều… Chùa Am Vãi còn lưu giữ ký ức với tháp đá cổ và những truyền thuyết, chuyện cổ dấu chân Phật trên đá, bàn cờ tiên, núi Hàm Rồng, giếng Cần, hang Tiền, hang Gạo, vũng Chị, vũng Em… Đến nay, chùa Am Vãi trở thành điểm du lịch tâm linh – sinh thái nổi tiếng. Hội chùa được tổ chức vào ngày 23 tháng 3 âm lịch hàng năm, thu hút đông đảo khách thập phương về dự.
Vào thời nhà Trần, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai đầu năm Ất Dậu (1285), sau khi được phong Quốc công tiết chế, Trần Quốc Tuấn đã đặt đại bản doanh tại ải Nội Bàng (nay thuộc khoảng thị trấn Chũ và xã Bình Nội). Đến ngày 2 tháng 2 năm 1285, quân giặc từ phía bắc đánh tràn xuống. Mặc dù không phá được giặc nhưng quân đội nhà Trần và thủ lĩnh Vi Hùng Thắng đã chiến đấu ngăn bước quân thù cho đại quân rút lui an toàn. Địa danh Nội Bàng và tấm gương hy sinh của Vi Hùng Thắng đã được hậu thế ghi nhận như một trong những trang sử bi hùng và còn truyền lại trong lễ hội đền Quan – Khánh Vân cho đến ngày nay.
Trong quá trình hiện đại hóa dưới thời thực dân Pháp, ngay tại đồn Đầm thuộc xã Phượng Sơn đã sinh ra hai thi nhân, văn sĩ nổi tiếng là Tương Phố Đỗ Thị Đàm (1896-1973) và Bùi Huy Phồn (1911-1990). Tiểu thuyết gia Bùi Huy Phồn từng có bài thơ Ra đời in trên Tiểu thuyết thứ Năm với giọng trào tiếu: Hai mươi năm trước buổi giao thời,/ Phong cảnh đồn Đầm ngẫm chửa nguôi./ Phố xá rộn ràng Tây đá lính,/ Ngàn dâu khúc khích đĩ ve bồi./ Đỉnh đồi mây đuổi trăng thua chạy,/ Mặt sóng thuyền neo lửa tập bơi./ Bỗng chó xua ma, gà rủa cáo,/ Đầu làng tiếng khóc: mẹ sinh tôi…
Theo đường 31, từ thị trấn Chũ qua xã Biển Động (Lục Ngạn), vượt xã Cẩm Đàn, Yên Định tới thị trấn An Châu, trung tâm huyện Sơn Động. Có thể nói thung lũng Cẩm Đàn – An Châu là nơi cư dân cổ vùng cao tụ họp thành làng bản tương đối đông đúc trước khi nhập vào những cánh rừng đại ngàn. Tại An Châu hiện còn đình, chùa Chẽ, nghè Chải, đền Vua Bà thờ công chúa Ngọc Dung con gái vua Hùng Vương có công đánh giặc và phối thờ mẫu Liễu Hạnh, đức thánh Trần, đền Vua Ông thờ thủ lĩnh Vi Đức Lục được coi là tổ họ Vi và từng tham gia đánh giặc Minh đầu thế kỷ 15. Đặc biệt ở nơi nguồn sông non cao này còn có lễ hội bơi chải Ba Chẽ (Chẽ) truyền thống, được tổ chức vào 15-4 hàng năm. Thị trấn An Châu cũng là điểm giao cắt, trung chuyển của hai tuyến đường liên tỉnh quan trọng: ngược đường 31 khoảng 60 km lên Đình Lập (Lạng Sơn), xuôi ngang theo đường 279 sẽ gặp đường tâm linh 293 Tây Yên Tử rồi nối sang Hoành Bồ (Quảng Ninh)…
Cần chú ý Sơn Động là vùng du lịch sinh thái đặc sắc, hấp dẫn và còn nhiều tiềm năng. Trước hết, Sơn Động còn diện tích rừng tự nhiên khá lớn với nhiều loại gỗ quý như lim, lát, sến, táu, vàng tâm, dẻ và nhiều cây thuốc quý hiếm. Có điều lạ, trong khi một số cây thuốc ở tiểu vùng bắc An Châu đạt chất lượng cao thì ở tiểu vùng phía nam thuộc các xã Tuấn Mậu, Thanh Sơn chỉ cách trên 20 km lại nhạt vị, thưa thoáng hơn; ngược lại, giống hạt dẻ vùng phía bắc lại xốp bộp, kém chất, trong khi hạt dẻ vùng phía nam chạy dọc về đất Mai Sưu lại chắc mẩy, thơm ngon hơn hẳn. Thêm nữa, không kể các điểm du lịch sông hồ trên đất núi (Cấm Sơn, Khuôn Thần thuộc phía tây bắc), gần cận quanh An Châu còn có chí ít hai điểm du ngoạn hấp dẫn. Thứ nhất là núi cỏ Đồng Cao (có người gọi là cao nguyên, đồi cỏ, đều chưa đúng). Trên đỉnh núi cao lại có những bãi cỏ, ghềnh đá và xa xa trập trùng núi cao tiếp núi cao. Đường đi từ thị trấn An Châu chỉ hơn mươi cây số, qua An Lập, Vĩnh Khương đến Đồng Cao – Vân Sơn, lúc về theo lối Lệ Viễn – An Lập cũng hay. Đồng Cao được xem là một trong bốn núi cỏ đẹp nhất Việt Nam. Hầu như quanh năm đều có phượt thủ và những nhóm tham quan, cắm trại, du hành, du ngoạn, leo núi và ngắm sao trời. Chỉ cầu mong cõi tiên Đồng Cao mãi mãi mãi hoang sơ, thanh vắng thế này… Thứ nữa là rừng nguyên sinh Khe Rỗ với những bản người Tày, Nùng, Dao Thanh Phán, Cao Lan, Sán Chí thưa vắng và những bạt sim, mua; những suối, khe, thác; những bạt tre, giang, hóp; những lối mòn yên tĩnh và tiếng chim hư ảo giữa rừng già như ngược cõi Đào Nguyên…
Đến đây xin dẫn giải tiếp tuyến đường 279 từ thị trấn An Châu qua xã An Châu, An Lạc, Dương Hưu và gặp đường tâm linh 293 Tây Yên Tử ở Long Sơn, kết nối sang Thanh Luận – Thanh Sơn – Tuấn Mậu. Tuyến đường đi chưa đầy ba chục cây số, qua cầu Yên Định đầu nguồn sông Lục, men theo những dãy núi, bờ sông. Phía bên kia là bạt rừng già, tre nứa, tưởng như đang đi bên đường núi Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng. Phía bên này thấy nhiều rừng nhân tạo với những bạch đàn, keo lá mít, tai tượng xanh tốt. Ngang qua xã Dương Hưu có di tích lịch sử – văn hóa đình Mục phối thờ đức thánh Cao Sơn – Quý Minh đại vương, Ngọc Hoa công chúa, Lý Tử Thôi – Lý Hoài Nam và đức Trần Hưng Đạo; tiếp đến xã Long Sơn lại có đình Lục Liễu thờ thánh Cao Sơn – Quý Minh đại vương và Đào Khai Trân Ngọc (tướng quân đời nhà Trần). Nơi đây còn có điểm du lịch sinh thái hồ Khe Chão khá nổi tiếng…
Đến điểm cuối vòng cung Lục Ngạn, qua An Châu tới thị trấn Thanh Sơn và xã Tuấn Mậu (Sơn Động) là đã nhập vào tuyến đường tâm linh 293 Tây Yên Tử. Có thể xác định tuyến đường thượng đạo Tây Yên Tử nói trên đã được tạo dựng với truyền thống lịch sử – văn hóa lâu đời và ngày nay đã trở thành điểm du lịch tâm linh và sinh thái giàu tiềm năng. Trên phương diện giao thương, khách du thập phương có thể đến Tây Yên Tử bằng cả hai tuyến đường, hoặc đi lối này về theo lối kia và ngược lại, thời thỏa nguyện thăm thú được cả hai nơi[6]…
Ngày nay du khách có thể tùy tâm, tùy hứng, tùy thời gian, điều kiện mà trải nghiệm với vùng đất Tây Yên Tử theo nhiều cung đường và cách thức khác nhau. Vào đúng mùa xuân mới đây, khu du lịch sinh thái Đồng Thông nối tuyến cáp treo tới Chùa Đồng đã chính thức khai trương và lễ hội chùa mở ra thì tiếng vọng tâm linh đất Phật non thiêng Tây Yên Tử đã và sẽ còn vọng vang xa hơn nữa…
PGS. TS. Nguyễn Hữu Sơn
Chú thích:
[1] Xin xem Thiền uyển tập anh (Ngô Đức Thọ – Nguyễn Thúy Nga dịch). Phân viện Nghiên cứu Phật học – Nxb Văn học, Hà Nội, 1990, tr.154-156.
[2] Xin xem Nguyễn Quang Ân – Ngô Văn Trụ (Chủ biên): Địa chí Bắc Giang – Lịch sử và văn hóa. Sở Văn hóa thông tin Bắc Giang và Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam Xb, 2006, 772 trang.
[3] Trần Nhân Tông: Lạng châu vãn cảnh (Cảnh chiều ở châu Lạng), trong sách Thơ văn Lý – Trần, Tập II, Quyển thượng. Nxb KHXH, Hà Nội, 1988, tr.468.
[4] Xem mục từ Thân Cảnh Phúc, trong sách Địa chí Bắc Giang – Từ điển (Nguyễn Quang Ân – Nguyễn Xuân Cần chủ biên). Sở Văn hóa thông tin Bắc Giang và Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam Xb, 2001, tr.681.
[5] Xin xem Đại Việt sử lý toàn thư, Tập II (Ngô Đức Thọ dịch, chú). Nxb KHXH, Hà Nội, 1998, tr.253, 272.
[6] Xin xem Nguyễn Hữu Sơn: Tiếng gọi non cao Tây Yên Tử. Bắc Giang, số Tết, tháng 1+2-2018, tr.50.