Xây dựng văn hoá tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ sở chùa chiền, tự viện
BÀI 1: NHẬN DIỆN ” VĂN HOÁ TIẾT KIỆM” VÀ CHỐNG LÃNG PHÍ TRONG ĐỜI SỐNG PHẬT GIÁO
Tiết kiệm và lãng phí là hai khái niệm đối đãi nhau. Người đã tiết kiệm thì không lãng phí, người đã sống lãng phí thì không gọi là tiết kiệm. Chống lãng phí cũng chính là thực hành tiết kiệm. Nhưng khi dùng đến từ “chống lãng phí” thì vấn đề ở một cường độ mạnh hơn, cương quyết, quyết liệt hơn, từ đó cảnh báo mọi người sống ở đâu, trên cương vị gì cũng phải xây dựng cho mình một tinh thần, một nét văn hóa đẹp, văn hóa tiết kiệm – không lãng phí trên mọi phương diện của cuộc sống.
Lãng phí dưới góc nhìn Phật giáo trong xã hội hiện đại
Đại đức Thích Giác Hợp (Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội) cho biết, tư tưởng Phật giáo về “thiểu dục tri túc” – sống biết đủ, biết dừng – là nền tảng cốt lõi cho việc thực hành tiết kiệm.
Đức Phật đã chỉ rõ, nguồn gốc của khổ đau chính là sự tham ái, mong cầu không có điểm dừng. Do đó người xuất gia và Phật tử chân chính phải nuôi dưỡng tâm ly tham, giảm thiểu dục vọng.
Tiết kiệm chính là để rèn luyện tâm từ bi và trí tuệ. Tâm không bị ràng buộc vật chất sẽ dễ tu tập và đạt được giải thoát. Ngược lại, lãng phí làm tổn hại phước báu của bản thân và gây hại cho môi trường, cộng đồng.
Sự tiết kiệm trong Phật giáo không đồng nghĩa với keo kiệt, bủn xỉn hay sống kham khổ một cách tiêu cực.
Trái lại, đó là một thái độ sống tỉnh thức và có trách nhiệm. Đó là sự trân trọng từng hạt cơm, từng giọt nước, từng tờ giấy, bởi tất cả đều là thành quả của lao động, là công sức của đàn na tín thí.
Song hành với tiết kiệm là hành động chống lãng phí. Không chỉ chống lãng phí tiêu hao vật chất vô ích, mà còn chống lãng phí thời gian, công sức, trí tuệ, và cả những cơ hội để làm điều có ích.
Dưới góc nhìn của Phật giáo, lãng phí không chỉ là một vấn đề đạo đức mà còn là hành động gieo nhân bất thiện, tạo ra hệ quả xấu cho cả bản thân và cộng đồng.

Theo đó, có thể nhận diện các hiện tượng lãng phí trong Phật giáo bao gồm lãng phí vật chất và lãng phí tinh thần. Trong đó, lãng phí vật chất như: Lãng phí tiền bạc, thực phẩm, thời gian.
Cụ thể, lãng phí tiền bạc: Chi tiêu quá mức cho những việc không cần thiết, xây dựng chùa chiền, tổ chức tang lễ, lễ hội, hội nghị hoàng tráng không mạng lợi ích thiết thực cho cộng đồng.
Đối với lãng phí thực phẩm, thì bỏ thừa đồ ăn, thức uống, không trân trọng những gì mình có, gây ra mất cân bằng trong việc sử dụng tài nguyên.
Lãng phí thời gian: Bỏ phí thời gian vào những việc vô bổ, không tu tập, không làm việc thiện, không tạo ra giá trị, làm lỡ mất những cơ hội tốt.
Lãng phí tinh thần, trong đó, lãng phí cơ hội, không tận dụng cơ hội để tu tập, học hỏi, làm việc thiện, phát triển bản thân; lãng phí tài năng: Không phát huy hết khả năng cuả mình, không cống hiến cho xã hội. Lãng phí lòng từ bi, không thực hành lòng từ bi, không giúp đỡ người khác, không chia sẻ yêu thương.
Đáng nói, mạch nguồn giúp Phật pháp trường tồn là tăng tài và niềm tin. Bởi tăng tài là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực, còn niềm tin là chất keo gắn kết con người, tạo ra sự đồng thuận và cống hiến lâu dài.
Đối với tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng, tăng tài không chỉ thể hiện ở phẩm hạnh, trí tuệ, năng lực, truyền bá giáo pháp, mà còn được nhấn mạnh tinh thần phụng sự chúng sinh, qua đó, tạo niềm tin đối với Phật tử và cộng đồng.
Tuy nhiên, thực tế, lãng phí tăng tài và đánh mất niềm tin đang là một thực trạng diễn ra đối với lĩnh vực giáo dục tăng ni và các hoạt động tại các tự viện. Điều đó thể hiện ở việc các cơ sở đào tạo phân tán, thiếu đồng bộ, môi trường học tập chưa được đầu tư tương xứng và cơ chế trọng dụng nhân tài chưa rõ ràng khiến nhiều tăng ni trẻ mất động cơ, bỏ lỡ cơ hội phát triển, thậm chí rời xa lý tưởng ban đầu.
Tài sản của tăng đoàn, cũng là tài sản của Nhân dân, nên phải được dùng đúng mục đích, tiết kiệm.
Theo tìm hiểu, hệ thống đào tạo tăng ni tại nhiều địa phương còn thiếu quy hoạch tổng thể, chưa có sự kết nối và đồng bộ giữa các cấp học, vùng miền.
Cụ thể, có nơi xây dựng cơ sở vật chất khang trang, nhưng lại thiếu đội ngũ giảng sư chuyên sâu, có nơi tập trung nhiều tăng ni trẻ tâm huyết, nhưng lại thiếu tài liệu, giáo trình, đặc biệt thiếu người hướng dẫn đủ kinh nghiệm. Điều đó dẫn đến lãng phí tài năng mất cơ hội hành đạo. Học mà không hành, hiểu mà không tu, thì sẽ dẫn đến ngạo mạn, vô minh. Sự lãng phí ấy, không chỉ ảnh hưởng cá nhân mà còn khiến đạo pháp thiêu những người kế thừa đủ năng lực, đạo đức. Đây là mất mát lớn cho Phật giáo trong thời đại mà giá trị tâm linh đang dần bị lu mờ bởi vật dục và hưởng thụ.
Bên cạnh đó, nhiều tăng ni trẻ, dù có năng lực học tập, nghiên cứu giảng dạy tốt vẫn phải học tập trong điều kiện thiêú thốn, cơ hội tiếp cận với các học bổng, chương trình trao đổi học thuật quốc tế còn hạn chế. Một số giảng sư vì vướng cơ chế hành chính, hoặc sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các tự viên dẫn đến thiếu hụt nguồn tăng tài trong Giáo hội.
Xây chùa to, tượng lớn-có lãng phí?
Trong xã hội hiện đại ngày nay, nhiều Phật tử đặt câu hỏi, tại sao lại xây chùa to, tượng lớn? Nhà sư lại dùng ô tô, điện thoại đắt tiền? Nhà sư được học tập tại các tự viện, học viện khang trang, hiện đại có lãng phí?

Trả lời câu hỏi này, Hòa thượng Thích Thanh Quyết, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự TƯ Giáo hội Phật giáo Việt Nam nêu thực tế, không phải bây giờ mới xây chùa to. Vua Lý Thái Tổ khi dời đô về Thăng Long, đã cho xây 18 ngôi chùa lớn.
“Xây chùa to không cho cá nhân nào mà chính là xây cho toàn dân. Mỗi ngôi chùa xưa này đều là nơi giáo dục, hướng thiện, hướng thượng cho quần chúng nhân dân.
Cho nên có điều kiện thì có thể xây chùa to, chỉ cần đừng cầu cạnh quá mức để xây. Không được lợi dụng chùa to để làm những thứ trái pháp luật, làm những việc trái đạo.
Vì ngôi chùa ấy là ngôi chùa của dân, tài chính cũng là của dân. Chẳng có một vị sư nào mang của cải đi xây chùa, chủ yếu do uy tín của từng người, từng chùa mà được Phật tử đóng góp, cúng dường xây chùa to, tượng lớn”, hòa thượng Thích Thanh Quyết phân tích.
Ông đưa ra kết luận không nên câu nệ theo suy nghĩ “chùa to là lãng phí, chùa bé là tiết kiệm”. Chùa bé mà không biết sử dụng cũng là lãng phí.
Cũng không câu nệ đi ô tô, dùng điện thoại là lãng phí, đi bộ, không dùng điện thoại là tiết kiệm. Bởi đi bộ, không dùng điện thoại có khi lãng phí hơn. Đó là lãng phí thời gian, và lãng phí nhiều cơ duyên khác, lãng phí trí tuệ phát minh của nhân loại.
Hòa thượng Thích Thanh Quyết căn dặn tăng ni sinh nên vận dụng những thành tựu công nghệ của nhân loại vào trong đời sống học tập và tu tập của mình cho tốt, nhưng đừng đua đòi thời thượng, các phương tiện đời mới.
“Chi 1 tỉ đồng vào chỗ đáng chi thì không lãng phí, nhưng chi một đồng không đúng mục đích thì cũng là lãng phí”, Hoà thượng nói.
…
BÀI 2: VỊ TRỤ TRÌ PHẢI LÀ ĐIỂN HÌNH CỦA VĂN HOÁ TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ.
Với tinh thần “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”, các hoạt động Phật sự và hoạt động xã hội của Phật giáo luôn hướng đến con người, vì con người, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển phồn vinh của đất nước, vì sự trường tồn của dân tộc. Những vị chức sắc Phật giáo là người có sức ảnh hưởng, lan tỏa mạnh trong xã hội, cộng đồng Phật tử, điều đó được thể hiện tronng quá trình tu tập và hành đạo.
Văn hoá tiết kiệm của các bậc vĩ nhân
Trải qua gần 3.000 năm, từ Đức Phật Thích ca cho đến các bậc danh tăng Việt Nam như: Trần Nhân Tông, Vạn Hạnh và các thiền sư đều là những bậc “thân giáo” vĩ đại. Họ tiết kiệm trong từng hơi thở, bữa ăn, từng hành xử.
Phật hoàng Trần Nhân Tông là ví dụ tiêu biểu cho người đứng đầu từ bỏ mọi xa hoa để tu hành trên núi Yên Tử. Ngài sống tam thường bất túc, ăn không no, mặc không ấm, ngủ không dài để rèn luyện đạo lực và giáo hoá quần chúng. Hành trạng của ngài là ánh sáng soi đường cho tăng ni Đại Việt soi đường suốt nhiều thế kỷ.

Ngài sáng lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử-dòng thiền Việt Nam độc lập thống nhất với chủ trương hoà nhập giữa đạo và đời, không rườm rà, không lãng phí thời gian. Đây là biểu hiện rõ ràng của một văn hoá tiết kiệm cả về tư duy, thời gian và tài lực.
Thiền sưTuệ Tĩnh dùng lá thuốc chữa bệnh cho dân; Hoà thượng Thích Thanh Từ tái sử dụng từng tờ giấy; Hoà thượng Thích Quảng Đức đốt mình để tiết kiệm lời nói; Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ đã suốt đời mình sống thanh bần lạc đạo, tụng kinh viết sách, tu tập dưới mái chùa làng khiêm tốn, thanh tịnh;
Hoà thượng Thích Nhất Hạnh, sống đơn giản để thấy an lạc, tiết kiệm vật chất để dư sức lo việc đạo; …
Đảng, Nhà nước đề cao văn hoá tiết kiệm
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãng tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, không chỉ là người đề cao vai trò tiết kiệm , mà còn là tấm gương sáng ngời về lối sống tham đạm, giản dị. Học tập và làm theo phong cách của Bác không chỉ giúp mỗi cá nhân rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt đẹp, mà còn góp phần xây dựng xã hội văn minh, giàu mạnh.
Tư tưởng tiết kiệm của Bác gần gũi với tinh thần tu tập của đức Phật và tăng đoàn ngày xưa.
Còn nhớ, sau khi đất nước giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ lo củng cố chính quyền, mà còn đặc biệt quan tâm đến xây dựng đạo đức lối sống mới cho toàn dân. Trong đó, phải kể đến phong trào “hũ gạo tiết kiệm”, để giúp đồng bào, chiến sỹ còn khó khăn. Chính bản thân Bác là tấm gương sống động nhất. Bác thường ăn cơm với muối vừng, rau luộc, sống trong căn nhà sàn đơn sơ. Bác luôn nhấn mạnh: “Tiết kiệm chứ không phải hà tiện. Tiết kiệm là sử dụng hợp lý, tránh lãng phí để dành phần hơn cho người khác. Còn, hà tiện là chỉ biết giữ cho mình, không dám dùng, không dám chia sẻ”.
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, kéo theo đó, lối sống xa hoa hưởng thụ xuất hiện, thì tinh thần tiết kiệm chống lãng phí luôn được nhắc nhở, cảnh tỉnh.
Trong bài viết: “Thực hành tiết kiệm” của Tổng Bí thu Tô Lâm đã khẳng định: “Tiết kiệm và chống lãng phí là hai thành tố gắn bó hữu cơ với nhau, là hai trụ cột để đi tới thịnh vượng và giàu mạnh. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là điều cần làm trong cuộc sống của từng cá nhân và toàn xã hội, là cơ sở để xây dựng xã hội văn minh, phát triển bền vững. Đó phải là trách nhiệm của chúng ta và cần trở thành nếp sống văn hoá hàng ngày của mỗi chúng ta”.
Trụ trì là “thân giáo” trong lối sống tiết kiệm, chân chánh
Theo Thượng toạ Thích Đạo Hiển, Chánh Thư ký, Ban Trị sự Phật giáo Quảng Ninh, người đứng đầu trong các cơ sở Phật giáo, là những người đi tiên phong định hướng và truyền cảm hứng cho tăng ni noi theo nếp sống tiết kiệm, tri túc, chống lãng phí. Họ không chỉ nói, mà còn là sống với nó, truyền đạt bằng cả thân giáo, khẩu giáo, ý giáo.
Những người đứng đầu trong các cơ sở Phật giáo, là trụ trì, viện trưởng học viện,… không chỉ giữ vai trò quản lý hành chính, mà còn là người gieo mầm cho các thế hệ tăng ni kế thừa. Qua cách sống, cách chi tiêu, cách giảng dạy, học truyền đi thông điệp: “Tiết kiệm là cách sống có đạo, là cách tu có trí, là cách yêu thương có trách nhiệm”.

Trên thực tế nhiều cơ sở Phật giáo đã triển khai tốt các phong trào tiết kiệm ảnh hưởng tích cực trong cộng đồng, như: Chùa Yên Tử, Bái Đình tổ chức các thanh niên tình nguyên tuyên truyền các chương trình tiết kiệm tài nguyên, tiết kiệm điện, không dùng túi nilon, sử dụng vật liẹu tái chế, năng lượng xanh…
Một số cơ sở còn tổ chức mô hình: “Tủ quần áo miễn phí”, “Bữa cơm không đồng”, “Tủ bánh mỳ thiện nguyện”, phục vụ người nghèo, vừa là hành động từ bi, vừa là ví dụ điển hình về việ sử dụng nguồn lực tiết kiệm, hiệu quả và đúng mục đích. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý điều hành sinh hoạt Phật sự như: Thư mời điện tử, giảng pháp trực tuyến, thay vì in sách hàng loạt… cũng là biểu hiện của văn hoá tiết kiệm và thân thiện với môi trường.
…
BÀI 3: GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM CHUNG TAY XÂY DỰNG VĂN HOÁ TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ
Trong bối cảnh đất nước đang hướng tới phát triển bền vững, việc xây dựng một nền văn hoá tiết kiệm, từ tiết kiệm năng lượng, tài nguyên thiên nhiên đến chi tiêu công và sinh hoạt hàng ngày là vô cùng cần thiết. Trong những năm qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có nhiều đóng góp trong xây dựng các phong trào văn hoá gắn với cộng đồng, nhằm lan toả các chủ trương đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước trong tiết kiệm, chống lãng phí.
Thông qua các hoạt động tôn giáo và sinh hoạt cộng đồng, các vị chức sắc kêu gọi Phật tử sống đạo đức, tuân thủ pháp luật. Đây là nền tảng quan trọng để giữ gìn an ninh trật tự, phát triển kinh tế xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Nhiều chức sắc đã tham gia xây dựng chính sách pháp luật về văn hoá tiết kiệm, chống lãng phí. Họ cũng là những người tiên phong trong việc triển khai và vận động thực hiện chính sách trong cộng đồng.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức nhiều cuộc thi nhân rộng những điển hình, gương người tốt việc tốt trong xây dựng văn hoá tiết kiệm, văn minh
Cụ thể: Chùa Giác Ngộ-TP HCM tổ chức khoá tu: Xanh-Sạch-Tiết kiệm cho giới trẻ. Theo đó, tăng ni cần làm gương cho Phật tử bằng những hành động cụ thể với hình ảnh chùa không rác bằng hình thức dùng lá gói đồ, hạn chế đồ nhựa; trồng rau để tự cung cấp thực phẩm, giảm chi tiêu.
Hay như, Hoà thượng Thích Phước Tiến kêu gọi Phật tử “an chay đúng cách”, không lãng phí thức ăn chay. Truyền thông Phật giáo thể hiện bằng pháp thoại, mạng xã hội, hạn chế in sách.
Bên cạnh đó, một số ngôi chùa ở tỉnh Quảng Ninh còn tổ chức các chương trình: “Đổi rác lấy quà”, tham gia chiến dịch “Giờ trái đất”, “Ngày không túi nilon”…
Ngoài ra, Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với các bộ, ngành tổ chức “Ngày hội sống xanh”; ví dụ, chùa Pháp Vân, Hà Nội tổ chức triển lãm: “Ngày hội sống xanh”; Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội tổ chức các cuộc hội thảo, toạ đàm: Văn hoá tiết kiệm trong mùa Vu Lan…
Chưa kể, các dự án cộng đồng bền vững do Giáo hội Phật giáo Việt Nam phát động như: Xây dựng “Chùa xanh-Làng xanh”; dự án “chùa không rác” ở Huế do Hoà thượng Thích Không Nhiên phối hợp với TP Huế tổ chức; chương trình “bữa cơm tiết kiệm” do chùa Diệu Pháp do Hội Phụ nữ nấu ăn từ thực phẩm tận dụng chống lãng phí…
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã ký kết thông tư liên tịch với Bộ Nông nghiệp-Môi trường khuyến khích xây chùa sinh thái, sử dụng năng lượng mặt trời, hệ thống nước tái chế.
Ví dụ như, chùa Bửu Long-TP HCM lắp pin năng lượng mặt trời với hỗ trợ từ Sở Công Thương.
Cùng với đó, một số chùa đưa nội dung Phật giáo vào trường học với chủ đề “đạo đức tiết kiệm” như: Một phút im lặng trước khi ăn do Hoà thượng Thích Nhất Hạnh đề xướng được áp dụng ở nhiều trường mâm non;
Hoặc như chương trình trao tặng thư viện cho các trường học vùng sâu, vùng xa của Học viện Phật giáo Việt Nam với chủ đề: Tủ sách Phật Quang… trao cho các em cơ hội được học tập, trau dồi tri thức, nâng cao hiểu biết xã hội.
Hàng năm, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trao tặng hàng trăm cho các cơ sở tôn giáo, chùa chiền trên cả nước. Theo đó, đã có hàng trăm ngôi chùa xanh được xây dựng , lan toả lối sống tiết kiệm đến 5 triệu Phật tử (thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ).
Như vậy, sự phối hợp giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam với các tổ chức đoàn thể trong xây dựng văn hoá tiết kiệm chống lãng phí đã mang lại những kết quả tích cực trong cộng động Phật tử và lan toả toàn xã hội.
Đề xuất về những định hướng chính sách để xây dựng văn hoá tiết kiệm, chống lãng phí có hiệu quả, tăng ni sinh lớp Cao đẳng 8, Học viện Phật giáo Việt Nam cho rằng, tăng cường giáo dục về tiết kiệm như một phẩm chất đạo đức trong giảng pháp, khoá tu và sinh hoạt cộng đồng; tổ chức các chương trình giao lưu văn hoá-pháp luật với chủ đề: “Tiết kiệm là hạnh phúc”; “Tiêu dùng có trách nhiệm”. Khi xây dựng Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí (sửa đổi), cần chú trọng đến yêu tố văn hoá, đạo đức trong giáo dục ý thức công dân. Hợp tác giưa giáo hội và cơ quan Nhà nước trong việc giám sát thực hiện chính sách tiết kiệm từ cơ sở. Xây dựng mô hình cộng đồng: “an cư lạc đạo-sống tiết kiệm” tại các làng, xã, phường gắn với chùa chiền, tự viện.
Trà Vân