PHÁT HUY GIÁ TRỊ QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG GIÁO LÝ PHẬT GIÁO NHẰM THÚC ĐẨY QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ BẢO VỆ NHÓM YẾU THẾ
Lê Hùng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Bài viết nghiên cứu sự giao thoa sâu sắc giữa các nguyên tắc nhân quyền phổ quát và triết lý Phật giáo, đặc biệt tập trung vào vấn đề bình đẳng giới và bảo vệ nhóm yếu thế trong xã hội. Thông qua việc phân tích các khái niệm cốt lõi như “Phật tính”, “Từ bi”, “Vô ngã” và “Nghiệp”, nghiên cứu khẳng định Phật giáo không chỉ là một hệ thống tín ngưỡng mà còn là một nguồn lực văn hóa, đạo đức to lớn góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các định hướng, hàm ý chính sách nhằm phát huy tối đa vai trò của Phật giáo trong việc xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội bao trùm và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) tại Việt Nam.
Abstract
This article explores the profound intersection between universal human rights principles and Buddhist philosophy, with a particular focus on gender equality and the protection of vulnerable groups in society. Through an analysis of core concepts such as “Buddha-nature,” “Compassion,” “Non-self,” and “Karma,” the study affirms that Buddhism is not merely a belief system but also a substantial cultural and ethical resource that contributes to ensuring social security. On this basis, the paper proposes policy orientations and implications aimed at maximizing the role of Buddhism in building an inclusive social welfare system and perfecting the socialist rule-of-law state in Vietnam.
Từ khóa: Quyền con người, Phật giáo, bình đẳng giới, nhóm yếu thế, chính sách, an sinh xã hội.
Keywords: Human rights, Buddhism, gender equality, vulnerable groups, policy, social security.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự vận động không ngừng của các quan hệ kinh tế - xã hội thời đại kỷ nguyên số, vấn đề bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người không chỉ đơn thuần là một cam kết chính trị hay chuẩn mực pháp lý quốc tế, mà đã trở thành thước đo căn bản cho sự phát triển văn minh, tiến bộ của mọi quốc gia. Đối với Việt Nam, xuyên suốt tiến trình lịch sử cách mạng và đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, việc kiến tạo một môi trường xã hội mà ở đó con người được đặt vào vị trí trung tâm, là mục tiêu, động lực và nguồn lực nội sinh vĩ đại nhất của công cuộc phát triển đất nước luôn là định hướng chiến lược tối thượng. Đến năm 2026, với những cột mốc phát triển mới được định hình từ các hội thảo khoa học quốc gia, trong đó có những diễn đàn học thuật uy tín do các trường đại học lớn tổ chức nhằm phân tích và cụ thể hóa các định hướng chiến lược từ hệ thống Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, quan điểm về quyền con người tiếp tục được nâng tầm và khẳng định một cách mạnh mẽ. Các định hướng này nhấn mạnh khát vọng xây dựng một quốc gia phồn vinh, hạnh phúc, nơi không một ai bị bỏ lại phía sau, đồng thời yêu cầu sự tham gia đa dạng của các nguồn lực xã hội, bao gồm cả nguồn lực văn hóa và tôn giáo vào công tác an sinh xã hội và bảo đảm quyền con người (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
Về mặt thể chế pháp lý, hệ thống pháp luật Việt Nam, với đạo luật cơ bản là Hiến pháp năm 2013, đã hiến định các nguyên tắc nền tảng và bao quát nhất về quyền con người, quyền công dân, thể hiện sự tương thích cao độ với Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR) năm 1948 cũng như các công ước quốc tế cốt lõi mà Việt Nam là thành viên (Quốc hội, 2013). Những quy định pháp luật hiện hành, tiêu biểu như Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Người khuyết tật năm 2010, Luật Trẻ em năm 2016 và các chính sách giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 tầm nhìn 2030, đã tạo ra một hành lang pháp lý tương đối vững chắc để bảo vệ các nhóm yếu thế trong xã hội. Tuy nhiên, dưới lăng kính của xã hội học pháp luật và thực tiễn vận hành của một Nhà nước pháp quyền XHCN, để pháp luật thực sự đi vào đời sống, lan tỏa thành ý thức tự giác và văn hóa ứng xử của cộng đồng, thì chỉ dựa vào các thiết chế quyền lực nhà nước, sức mạnh cưỡng chế và chế tài là chưa đủ. Các quy phạm pháp luật cần được thẩm thấu và bổ trợ bởi các hệ quy chiếu đạo đức, niềm tin tín ngưỡng và các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Sự kết hợp giữa “pháp trị” và “đức trị” - mượn những triết lý nhân văn của tôn giáo để điều chỉnh hành vi xã hội - đang là một xu hướng quản trị nhà nước hiện đại và hiệu quả, đặc biệt trong việc bảo vệ các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất.
Trong hệ sinh thái tín ngưỡng và tôn giáo đa dạng tại Việt Nam, Phật giáo hiện diện không đơn thuần với tư cách là một tôn giáo mang tính tín ngưỡng tâm linh thuần túy, mà đã hóa thân thành một thành tố hữu cơ cấu thành nền văn hóa dân tộc, một hệ tư tưởng triết học mang tính nhân bản và nhân văn sâu sắc. Trải qua hơn hai thiên niên kỷ du nhập, bám rễ và đồng hành cùng thăng trầm của lịch sử dân tộc, Phật giáo Việt Nam luôn kiên định lý tưởng “Hộ quốc an dân”. Bước vào kỷ nguyên mới, tinh thần ấy được hiến định rõ nét trong Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tu chỉnh lần thứ VII) năm 2022, với phương châm hành đạo: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, khẳng định sự dấn thân nhập thế, phụng sự nhân sinh, mang lại an lạc cho cộng đồng (Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 2022). Đặc biệt, hệ thống giáo lý cốt tủy của Phật giáo chứa đựng những hạt nhân hợp lý, những giá trị tương dung đến mức kinh ngạc với nền tảng lý luận về nhân quyền hiện đại. Các tư tưởng về sự bình đẳng vô phân biệt, lòng từ bi, tinh thần vô ngã vị tha, và triết lý duyên khởi chính là những “tuyên ngôn nhân quyền” sơ khởi mang tầm vóc vượt thời đại.
Sự giao thoa giữa luật học và Phật học trong khía cạnh quyền con người thể hiện rõ nét nhất ở hai phương diện đang là điểm nóng của chính sách xã hội đương đại: Thúc đẩy quyền bình đẳng giới và bảo vệ nhóm yếu thế. Về phương diện bình đẳng giới, trong bối cảnh các định kiến gia trưởng phụ hệ phong kiến phương Đông vẫn còn những tàn dư dai dẳng len lỏi trong đời sống xã hội, giáo lý nguyên thủy của Phật giáo lại là một tiếng nói phản biện vô cùng mạnh mẽ. Tuyên ngôn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn” (Thích Minh Châu, 1991) không chỉ phá bỏ chế độ đẳng cấp Varna đương thời mà còn là sự xác lập nguyên lý bản thể luận về sự bình đẳng tuyệt đối về phẩm giá, năng lực giác ngộ (Phật tính) giữa nam và nữ, cũng như giữa mọi cá thể người. Trên phương diện bảo vệ nhóm yếu thế - những người khuyết tật, người nghèo, trẻ mồ côi, hay những người bị gạt ra bên lề của sự phát triển kinh tế thị trường - triết lý “Từ bi” (Karuna) và sự tái nhận thức về thuyết “Nghiệp” (Karma) của Phật giáo cung cấp một cơ chế giải quyết mang tính căn nguyên. Phật giáo không nhìn nhận sự yếu thế hay nghèo khổ là định mệnh cam chịu, mà coi đó là hệ quả của các chuỗi duyên sinh cần được hóa giải bằng “thiện nghiệp” của hiện tại, đòi hỏi trách nhiệm chia sẻ, đùm bọc của toàn cộng đồng dựa trên nền tảng của lòng trắc ẩn và sự thấu cảm sâu sắc.
Từ Đại hội XII, Đại hội XIII và hiện nay là những nền tảng tư tưởng vĩ mô của Đại hội XIV (năm 2026), Đảng ta liên tục khẳng định quan điểm nhất quán trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Đây là định hướng chính trị cốt lõi, mở ra không gian pháp lý và thực tiễn rộng lớn để huy động sức mạnh của tôn giáo vào công tác xã hội hóa y tế, giáo dục và bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, từ phương diện nghiên cứu lý luận pháp luật liên ngành, vẫn còn thiếu vắng những công trình khảo cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện nhằm hệ thống hóa, bóc tách và giải mã cơ chế nội sinh của các giá trị Phật giáo dưới lăng kính của luật quyền con người. Việc chỉ dừng lại ở những đánh giá chung chung về tính “hướng thiện” của tôn giáo sẽ không đáp ứng được yêu cầu tinh chỉnh chính sách trong giai đoạn kiến tạo phát triển hiện hành.
Xuất phát từ những nhận thức lý luận và đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn nêu trên, bài viết này được thực hiện nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu, kiến giải một cách hệ thống, khách quan và khoa học về chủ đề trọng tâm: “Phát huy giá trị quyền con người trong giáo lý Phật giáo nhằm thúc đẩy quyền bình đẳng giới và bảo vệ nhóm yếu thế”. Dưới góc nhìn liên ngành chặt chẽ giữa Luật học (đặc biệt là lý luận về Quyền con người) và Phật học, nghiên cứu sẽ tập trung bóc tách các giá trị bản thể luận và đạo đức học Phật giáo tương thích với các chuẩn mực nhân quyền phổ quát; phân tích thực tiễn sự tham gia của Phật giáo vào các phong trào giải phóng phụ nữ, chống định kiến giới và các mô hình trợ giúp pháp lý, bảo trợ xã hội đối với người yếu thế tại Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2026. Trên cơ sở đối sánh, tổng hợp và nhận diện những khoảng trống trong cơ chế, chính sách hiện hành, bài viết kỳ vọng cung cấp những luận cứ khoa học, những hàm ý chính sách sâu sắc và mang tính khả thi cao. Từ đó, góp phần tham mưu cho các cơ quan lập pháp và hành pháp trong việc hoàn thiện khung pháp lý về tôn giáo, tạo động lực để Giáo hội Phật giáo Việt Nam phát huy tối đa vai trò là một “nguồn lực mềm”, chung tay cùng Nhà nước hiện thực hóa khát vọng xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hiện thực hóa các cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế về bảo đảm quyền con người theo tiêu chuẩn phát triển bền vững.

Hình ảnh minh họa cho Ni giới Phật giáo Việt Nam, đại diện cho sự công nhận năng lực tâm linh ngang bằng, quyền tự quyết của phụ nữ, đập tan định kiến giới và khẳng định vai trò nòng cốt của nữ giới trong các hoạt động bảo trợ xã hội
2. Nền tảng triết lý về nhân quyền và sự bình đẳng trong Phật giáo
Để thiết lập các cơ chế bảo vệ quyền con người một cách bền vững và thực chất, tư duy pháp lý hiện đại không thể chỉ đơn thuần dựa vào các quy phạm thực định mang tính cưỡng chế của nhà nước, mà còn cần bám rễ sâu vào các vỉa tầng triết học, đạo đức và văn hóa. Trong bối cảnh đó, sự giao thoa giữa luật học và triết lý Phật giáo mở ra một lăng kính tiếp cận đa chiều, sâu sắc và độc đáo. Mặc dù khái niệm thuật ngữ “quyền con người” (Human Rights) là một sản phẩm kiến tạo của tư tưởng chính trị - pháp lý phương Tây thời kỳ Khai sáng, nhưng những hạt nhân cốt tủy cấu thành nên khái niệm này - bao gồm phẩm giá, sự bình đẳng tự do, và lòng trắc ẩn đối với đồng loại - đã hiện diện một cách toàn diện và biện chứng trong giáo lý đạo Phật từ hơn 25 thế kỷ trước. Sự tiếp cận của Phật giáo về quyền con người không đối lập, mà mang tính bổ trợ, lấp đầy những khoảng trống về mặt đạo đức học cho hệ thống nhân quyền quốc tế hiện đại được kết tinh từ “Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền” (UDHR) năm 1948.
2.1. Sự tương dung giữa triết lý Duyên khởi, Bổn phận và các thế hệ Quyền con người
Hệ thống nhân quyền phương Tây, với nền tảng từ thuyết pháp luật tự nhiên của John Locke hay Jean-Jacques Rousseau, thường nhấn mạnh tiếp cận nhân quyền dựa trên “đặc quyền” bẩm sinh và bất khả xâm phạm của từng cá nhân biệt lập. Mặc dù cách tiếp cận này đã tạo ra những bước tiến vĩ đại trong việc giải phóng cá nhân khỏi ách áp bức của cường quyền, nhưng nó cũng tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến chủ nghĩa cá nhân cực đoan, khi con người chỉ mải mê đòi hỏi quyền lợi hợp pháp của mình mà xao nhãng trách nhiệm đối với cộng đồng và môi trường. Ngược lại, triết học Phật giáo thiết lập nền tảng bảo vệ nhân quyền không bắt đầu từ việc “đòi quyền”, mà xuất phát từ việc thực thi “bổn phận” (Duties) và nuôi dưỡng lòng “Từ bi” (Karuṇā).
Nền tảng của sự dịch chuyển tư duy này chính là triết lý “Duyên khởi” (Pratītyasamutpāda). Giáo lý Phật giáo chỉ rõ: “Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh; cái này không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt” (Thích Minh Châu, 2012). Dưới góc độ xã hội học pháp luật và nhân quyền, triết lý Duyên khởi khẳng định rằng không một cá nhân, một giới tính, hay một nhóm xã hội nào có thể tồn tại độc lập, tách rời khỏi mạng lưới quan hệ đa chiều của toàn thể nhân loại. Do đó, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của chủ thể này luôn có tính liên đới, phụ thuộc hữu cơ vào sự tồn tại và phát triển của các chủ thể khác. Từ lăng kính Duyên khởi, việc tôn trọng quyền con người không còn là một nghĩa vụ pháp lý khiên cưỡng do nhà nước áp đặt, mà trở thành một quy luật sinh tồn tự nhiên; sự xâm phạm quyền lợi của người khác (như tước đoạt sinh mạng, bóc lột sức lao động, hay kỳ thị giới tính) suy cho cùng chính là tự hủy hoại các điều kiện tồn tại bình an của chính bản thân mình.
Đến năm 2026, trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hoàn thiện thể chế phát triển bao trùm theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV, sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ đang trở thành nguyên tắc hiến định cốt lõi. Cụm từ “quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” được quy định tại Điều 15 Hiến pháp năm 2013 hoàn toàn tìm thấy sự cộng hưởng đồng điệu với giáo lý Phật giáo (Quốc hội, 2013). Thông qua thực hành “Từ bi”, Phật giáo khuyến khích con người tự nguyện giới hạn những ham muốn vị kỷ để bảo vệ không gian sống và quyền lợi của những người xung quanh, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Đây chính là động lực văn hóa mềm, giúp chuyển hóa các quy định pháp luật khô khan thành ý thức đạo đức tự giác của hàng triệu Phật tử, góp phần kiến tạo một trật tự xã hội hài hòa và ổn định.
2.2. Phá vỡ định chế giai cấp: Từ Tuyên ngôn về sự bình đẳng sinh học đến nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Để đánh giá đúng tầm vóc tư tưởng nhân quyền của đạo Phật, cần đặt giáo lý này vào bối cảnh lịch sử của Ấn Độ cổ đại - một xã hội bị thống trị bởi chế độ đẳng cấp Varna hà khắc, nơi con người sinh ra đã bị phân loại thành các giai tầng cao thấp mang tính vĩnh viễn và bị tước đoạt toàn bộ cơ hội thay đổi số phận. Sự ra đời của đạo Phật là một cuộc cách mạng tư tưởng, một cuộc cải cách pháp lý và xã hội sâu sắc nhằm giải phóng con người khỏi ách nô lệ của các định chế thần quyền tôn giáo đương thời.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thẳng thừng bác bỏ đặc quyền cha truyền con nối của giai cấp Bà-la-môn và bảo vệ những người thuộc tầng lớp Chiên-đà-la (thủ đà la - những người bị coi là cặn bã, ô uế nhất xã hội). Tuyên ngôn kinh điển của Ngài: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn” (Thích Minh Châu, 1999) là một sự khẳng định mang tính phổ quát, khoa học và nhân văn tuyệt đối về sự bình đẳng sinh học và tâm lý của nhân loại. Giọt nước mắt của sự đau khổ (Dukkha) và dòng máu của sự sống là những giá trị thực chứng minh định rằng: Phẩm giá của con người không được quyết định bởi xuất thân, dòng dõi, giới tính hay tài sản, mà được định đoạt bởi hành vi đạo đức và trí tuệ của chính cá nhân đó trong hiện tại.
Tuyên ngôn này của Đức Phật, khi đối chiếu với lịch sử pháp quyền, có thể coi là bản phác thảo sớm nhất của nguyên tắc “mọi người đều sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi” được ghi nhận tại Điều 1 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 (Liên Hợp Quốc, 1948). Tại Việt Nam, tinh thần xóa bỏ mọi rào cản phân biệt đối xử này đã được thể chế hóa mạnh mẽ trong pháp luật hiện đại, tiêu biểu là Điều 16 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (Quốc hội, 2013). Sự tương đồng này cho thấy giá trị xuyên thời đại của Phật giáo, đồng thời là minh chứng khẳng định các nguyên tắc nhân quyền không phải là sự áp đặt từ bên ngoài, mà đã luôn là dòng chảy ngầm tự nhiên trong kho tàng trí tuệ phương Đông.
2.3. Bản thể luận “Phật tính”: Nền tảng triết học tối hậu bảo vệ nhân phẩm và quyền của nhóm yếu thế
Bước phát triển vượt bậc của triết học Phật giáo Đại thừa (Mahayana) mang lại cho luật học một nền tảng bản thể luận vững chắc nhất để bảo vệ quyền con người, đó là học thuyết về “Phật tính”. Kinh Đại Bát Niết Bàn tuyên thuyết: “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính” - nghĩa là mọi chúng sinh đều có mầm mống của sự giác ngộ, đều mang trong mình khả năng trở thành một vị Phật hoàn thiện về trí tuệ và đức hạnh (Thích Trí Tịnh, 2007).
Khái niệm “Phật tính” chính là cội nguồn của khái niệm “Nhân phẩm” trong pháp luật quốc tế. Khi thừa nhận mỗi cá nhân đều ẩn chứa một hạt giống Phật, chúng ta buộc phải nhìn nhận đối tượng bằng sự tôn trọng tối cao, bất kể họ mang giới tính nữ, là người khuyết tật, người mang bệnh hiểm nghèo hay là những cá thể đang vướng vòng lao lý. Sự yếu thế về vật chất, thể chất hay địa vị xã hội chỉ là biểu hiện mang tính “vô thường” và tạm thời của Duyên nghiệp; nó tuyệt đối không thể làm suy giảm hay lu mờ đi “Phật tính” - tức phẩm giá thiêng liêng cốt lõi bên trong họ. Đây chính là luận điểm sắc bén nhất đập tan mọi hình thức định kiến, kỳ thị đối với phụ nữ và các nhóm thiểu số, yếu thế.
Hơn thế nữa, trong bối cảnh đương đại, đặc biệt là giai đoạn kiến tạo quốc gia đến năm 2026, tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam được nâng tầm thành các phong trào hành động thực tiễn. Theo Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (sửa đổi năm 2022), hoạt động từ thiện xã hội, nuôi dưỡng người già neo đơn, trẻ mồ côi, chăm sóc y tế cho người nghèo không chỉ là “bố thí” đơn thuần, mà là sứ mệnh Bồ tát đạo, là phương pháp thực hành pháp môn giải thoát (Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 2022). Việc ứng dụng học thuyết Phật tính vào công tác xã hội giúp các nhà hoạch định chính sách và những người làm công tác bảo trợ xã hội thay đổi tư duy: Từ chỗ coi người yếu thế là “đối tượng ban ơn, thương hại”, chuyển sang coi họ là “chủ thể quyền” mang đầy đủ phẩm giá, cần được trao quyền và tạo cơ hội bình đẳng để tự vươn lên thay đổi nghịch cảnh. Đây cũng chính là điểm gặp gỡ sâu sắc nhất giữa triết lý cứu khổ ban vui của đạo Phật và mục tiêu xây dựng một “xã hội phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh” được nhấn mạnh trong định hướng phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
3. Giáo lý Phật giáo và vấn đề thúc đẩy quyền bình đẳng giới: Từ nguyên lý tôn giáo đến bảo đảm quyền hiến định
Trong suốt tiến trình lịch sử nhân loại, sự áp đặt của các cấu trúc xã hội phụ hệ và định kiến gia trưởng đã đẩy người phụ nữ vào vị thế yếu thế, tước đoạt nhiều quyền cơ bản và cản trở sự phát triển toàn diện của họ. Quyền bình đẳng giới, do đó, đã trở thành một trong những trụ cột cốt lõi của luật quyền con người quốc tế đương đại. Tại Việt Nam, nguyên tắc này được hiến định rõ ràng tại Điều 26 Hiến pháp năm 2013: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới” (Quốc hội, 2013). Bước vào giai đoạn phát triển mới hướng tới năm 2026, các định hướng chiến lược từ hệ thống Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đặt con người vào trung tâm của sự phát triển, yêu cầu khơi dậy khát vọng cống hiến của toàn dân và kiên quyết xóa bỏ mọi rào cản cản trở sự tiến bộ của phụ nữ, nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Để các chính sách pháp luật về bình đẳng giới thực sự bám rễ vào đời sống xã hội, việc kiến tạo một bệ đỡ văn hóa - tư tưởng là điều kiện tiên quyết. Nhìn từ lăng kính lý luận pháp luật liên ngành, giáo lý nguyên thủy và quá trình phát triển của Phật giáo cung cấp một hệ thống luận điểm tiên phong, sâu sắc và đầy sức thuyết phục trong việc nâng cao vị thế của người phụ nữ.
3.1. Sự công nhận năng lực tâm linh ngang bằng: Bản tuyên ngôn đầu tiên về quyền tự quyết và cơ hội phát triển của phụ nữ
Ra đời trong bối cảnh xã hội Ấn Độ cổ đại - nơi người phụ nữ bị ràng buộc tuyệt đối bởi các bộ luật tôn giáo khắc nghiệt (như Luật Manu) quy định phụ nữ không có quyền độc lập tâm linh mà phải phụ thuộc hoàn toàn vào cha, chồng hoặc con trai - Phật giáo đã tạo ra một sự đứt gãy mang tính cách mạng đối với cấu trúc áp bức này.
Sự kiện Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chính thức chấp thuận cho di mẫu Mahapajapati Gotami (Ma-ha-ba-xà-ba-đề) xuất gia và thành lập Ni đoàn (Bhikkhuni Sangha) không chỉ là một cột mốc mang ý nghĩa tôn giáo nội bộ, mà dưới góc độ xã hội học pháp luật, đây là bản “tuyên ngôn nhân quyền” đầu tiên về quyền tự quyết của phụ nữ (Thích Minh Châu, 2001). Việc thành lập Ni đoàn đồng nghĩa với việc tạo ra một thiết chế xã hội độc lập, nơi người phụ nữ được giải phóng khỏi các nghĩa vụ sinh học và gia đình áp đặt, được trao cơ hội và môi trường bình đẳng để theo đuổi lý tưởng giải thoát. Giáo lý Phật giáo khẳng định mạnh mẽ rằng: Phụ nữ có đầy đủ cấu trúc trí tuệ, năng lực tu tập để chứng đắc các quả vị thánh cao nhất (A-la-hán) và đạt được sự giải thoát tối thượng không hề thua kém nam giới. Điều này được minh chứng bằng những vần thơ giác ngộ trác tuyệt của các bậc Trưởng lão Ni trong tác phẩm Trưởng lão Ni kệ (Therigatha), ghi nhận những đóng góp trí tuệ ngang tầm của nữ giới trong thời kỳ đầu của đạo Phật (Thích Minh Châu, 1999).
Bước sang thời kỳ Phật giáo Đại thừa, tư tưởng bình đẳng giới tiếp tục được đẩy lên một tầm cao mới về mặt bản thể luận thông qua học thuyết “Phật tính” (Tathāgatagarbha). Vì Phật tính là bản thể vô tướng, vô lậu nên nó hoàn toàn siêu việt mọi sự phân biệt nam - nữ. Trong kinh điển Đại thừa, đặc biệt là Kinh Thắng Man (Srimala Sutra), hình tượng phu nhân Thắng Man (hoàng hậu quốc gia Ayodhya) dõng dạc đăng tòa thuyết pháp với trí tuệ siêu việt, biện tài vô ngại, thậm chí giảng giải những giáo lý thâm sâu nhất mà nhiều đại đệ tử nam giới chưa thấu triệt, là một minh chứng sinh động và hùng hồn nhất (Thích Trí Tịnh, 2007). Hình tượng này phá vỡ hoàn toàn định kiến cho rằng trí tuệ và vai trò lãnh đạo tâm linh là đặc quyền của nam giới, đồng thời cung cấp luận cứ triết học vững chắc để các phong trào nữ quyền hiện đại tại châu Á sử dụng làm vũ khí tư tưởng. Sự bình đẳng về năng lực tâm linh trong Phật giáo chính là tiền đề sâu xa cho nguyên tắc bình đẳng về cơ hội phát triển (giáo dục, việc làm, tham chính) trong luật nhân quyền thế giới.
3.2. Giải trừ định kiến giới và thanh lọc văn hóa: Vũ khí tư tưởng chống tư tưởng “trọng nam khinh nữ” và bạo lực gia đình
Trên thực tế, trong quá trình truyền bá và hội nhập vào các nền văn hóa phương Đông (đặc biệt là các quốc gia chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo với tư tưởng “tam tòng tứ đức”, “nam tôn nữ ti”), Phật giáo đã ít nhiều bị pha tạp và khúc xạ bởi các định kiến phụ hệ phong kiến. Một số quan niệm dân gian sai lầm, phi thực chứng đã len lỏi vào sinh hoạt tín ngưỡng, cho rằng phụ nữ sinh ra là mang “nghiệp nặng” (ác nghiệp) hơn nam giới, cơ thể phụ nữ là “ô uế”, hay phụ nữ phải tu nhiều kiếp mới được chuyển mang thân nam nhi để thành Phật.
Đứng trước đòi hỏi của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền và bảo vệ quyền con người hiện nay, các nhà nghiên cứu luật học và Phật học cần có sự “giải kiến tạo” để gạn đục khơi trong, phân định rạch ròi giữa giáo lý nguyên bản của Đức Phật và những tàn dư văn hóa phong kiến bị đắp điếm. Trong Kinh Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya), khi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) tỏ ra buồn rầu vì hoàng hậu hạ sinh công chúa chứ không phải hoàng tử, Đức Phật đã trực tiếp quở trách tư tưởng trọng nam khinh nữ này và khẳng định: “Một số thiếu nữ, tâu Đại vương, còn tốt hơn cả nam nhi; nếu người ấy thông minh, đức hạnh, kính tôn mẹ chồng, và chung thủy với phu quân” (Thích Minh Châu, 2012). Tinh thần bảo vệ giá trị thực chất của người phụ nữ này là giáo lý cốt lõi cần được phục hồi và lan tỏa.
Trong bối cảnh hệ thống pháp luật Việt Nam đang nỗ lực thực thi Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 nhằm bảo vệ phụ nữ khỏi các tổn thương về thể chất lẫn tinh thần, việc giải trừ các định kiến sai lệch nhân danh tôn giáo mang ý nghĩa chính sách cực kỳ to lớn (Quốc hội, 2022). Khi chúng ta sử dụng chính giáo lý Phật giáo chân chính - với tinh thần tôn trọng sự sống, phản đối bạo lực (bất bạo động) và đề cao sự bình đẳng Phật tính - để tuyên truyền, chúng ta sẽ có được một công cụ “quyền lực mềm” hiệu quả hơn nhiều so với những khẩu hiệu hành chính đơn thuần. Nó giúp tháo gỡ tư tưởng gia trưởng từ sâu thẳm nhận thức tâm lý, thay đổi hành vi của cộng đồng, từ đó loại bỏ mầm mống của bạo lực gia đình và sự phân biệt đối xử ngay từ trong tư tưởng.
3.3. Thực tiễn dấn thân của Ni giới và sự thể chế hóa vai trò của phụ nữ Phật giáo tại Việt Nam đến năm 2026
Nhận thức rõ giá trị của quyền bình đẳng giới và tầm quan trọng của nguồn lực tôn giáo, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tạo hành lang pháp lý thông thoáng để phụ nữ Phật giáo phát huy vai trò của mình. Định hướng từ Văn kiện Đại hội XIII và tiếp nối đến Đại hội XIV (2026) đều nhất quán chủ trương: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).
Đáp lại tinh thần đó, tổ chức bộ máy của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ trong việc thể chế hóa vai trò của nữ giới. Theo Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tu chỉnh lần thứ VII, năm 2022), Phân ban Ni giới Trung ương được củng cố và giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống hành chính đạo (Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 2022). Trên thực tế, đến năm 2026, lực lượng Ni giới Việt Nam không chỉ tinh thông nội điển, đạt nhiều học vị tiến sĩ, thạc sĩ trong và ngoài nước, mà còn là lực lượng nòng cốt đi đầu trong các hoạt động an sinh xã hội. Các ni cô đã và đang trực tiếp điều hành hàng loạt các trung tâm bảo trợ xã hội, các cơ sở giáo dục mầm non, các phòng khám từ thiện và đóng vai trò như những “chuyên gia công tác xã hội” hỗ trợ tâm lý cho nạn nhân của bạo lực giới, phụ nữ lầm lỡ và trẻ em gái có hoàn cảnh đặc biệt.
Sự hiện diện mạnh mẽ và những cống hiến không ngừng nghỉ của Ni giới Việt Nam chính là thực tiễn sinh động nhất để đập tan mọi định kiến về giới tính. Nó chứng minh rằng, khi được trao quyền và tiếp cận bình đẳng với các cơ hội (cả trong đạo lẫn ngoài đời), người phụ nữ có thể đóng góp những giá trị to lớn cho công cuộc xây dựng xã hội hòa bình, nhân ái. Đây là luận cứ thực tiễn sắc bén để các nhà nghiên cứu chính sách tại các cơ sở học thuật hàng đầu quốc gia kiến nghị Nhà nước tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tạo cơ chế hợp tác công - tư (PPP) thuận lợi hơn nữa nhằm huy động các tổ chức Phật giáo, đặc biệt là các tổ chức do Ni giới lãnh đạo, tham gia sâu rộng vào mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội và bảo vệ nhóm yếu thế.
4. Bảo vệ nhóm yếu thế qua lăng kính triết học “Từ bi” và “Nghiệp”: Góc nhìn từ Luật học và Phật học
Trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam giai đoạn đến năm 2026, nhóm đối tượng yếu thế (bao gồm người nghèo, người khuyết tật, trẻ mồ côi, người già neo đơn, nạn nhân của thiên tai, dịch bệnh...) luôn là trọng tâm ưu tiên hàng đầu của Nhà nước nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bao trùm và thịnh vượng. Tuy nhiên, việc bảo đảm quyền của nhóm yếu thế không chỉ dừng lại ở các chính sách hỗ trợ tài chính hay trợ giúp pháp lý, mà còn đòi hỏi một sự thay đổi sâu sắc về tư duy cộng đồng, sự đồng cảm xã hội và ý thức trách nhiệm sẻ chia. Phật giáo, với hệ thống giáo lý hướng thiện và tinh thần nhập thế mạnh mẽ, đóng góp một nguồn lực triết học và hành động thực tiễn vô cùng quan trọng, bổ trợ đắc lực cho các chính sách nhân đạo của Nhà nước.
4.1. Giải mã thuyết Nghiệp: Từ định mệnh luận đến tư duy kiến tạo trách nhiệm xã hội
Một trong những thách thức tư tưởng lớn nhất trong công tác bảo đảm quyền con người và an sinh xã hội hiện nay là việc hiểu sai lệch về thuyết “Nghiệp”. Trong đời sống xã hội, vẫn còn tồn tại những cách hiểu giáo điều, phiến diện cho rằng tình trạng nghèo đói, khuyết tật hay bất hạnh của một cá nhân là “nghiệp chướng” từ kiếp trước, từ đó dẫn đến thái độ thờ ơ, thậm chí đổ lỗi cho nạn nhân, coi sự khổ đau là hệ quả tất yếu mà họ phải tự chịu đựng.
Tuy nhiên, Phật giáo chân chính và nguyên thủy khẳng định: “Nghiệp” thực chất có nghĩa là “hành động”, là động lực của sự thay đổi và là cơ hội để cải thiện số phận. Đức Phật nhấn mạnh con người là chủ nhân của nghiệp, và nghiệp chính là sự lựa chọn hành vi trong hiện tại. Vì vậy, thay vì phán xét quá khứ, thuyết nghiệp đòi hỏi sự can thiệp chủ động, tích cực để tạo ra “thiện nghiệp” ngay trong hiện tại. Dưới lăng kính liên ngành, tình trạng nghèo khổ hay yếu thế của một cá nhân trong cộng đồng không còn được xem là bất hạnh cá nhân, mà được hiểu là một dạng “cộng nghiệp” - nơi sự khó khăn của một bộ phận dân cư là nỗi đau chung, là sự trách nhiệm chung mà cả xã hội cần phải chung tay giải quyết thông qua các chính sách an sinh toàn diện. Sự chuyển dịch từ tư duy “định mệnh” sang tư duy “trách nhiệm xã hội” này là luận cứ triết học mạnh mẽ nhất để thúc đẩy các phong trào nhân đạo, củng cố sự đoàn kết và tương trợ trong cộng đồng theo đúng tinh thần “tương thân tương ái” của dân tộc Việt Nam.

Ảnh minh họa: Hành động nhập thế, chăm sóc trẻ em mồ côi và nhóm yếu thế
4.2. Từ bi (Karuna) và hành động nhập thế (Engaged Buddhism): Cụ thể hóa quyền con người trong thực tiễn
Tinh thần “Bồ tát đạo” (hành đạo cứu đời) trong Phật giáo Đại thừa đặt ra yêu cầu người tu hành không chỉ ẩn cư tu tập mà phải dấn thân, nhập thế, dùng trí tuệ và tình thương để giải quyết những nỗi khổ của chúng sinh. Đây chính là cơ sở của khái niệm “Phật giáo nhập thế” - một mô hình hành đạo gắn liền với sự vận mệnh của quốc gia và dân tộc.
Trong bối cảnh đương đại, các hoạt động “bố thí” truyền thống đã được nâng tầm thành các mô hình phát triển bền vững và mang tính chuyên nghiệp cao. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, theo định hướng tại Hiến chương (tu chỉnh lần thứ VII), đã và đang thúc đẩy việc chuyển dịch từ thiện cứu trợ tạm thời sang các hoạt động dài hạn như:
Giáo dục và phát triển kỹ năng: Thành lập các trường học tình thương, các trung tâm dạy nghề, lớp học tình nghĩa cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, giúp họ tiếp cận quyền được giáo dục cơ bản.
Chăm sóc y tế và sức khỏe: Xây dựng hệ thống phòng khám chẩn trị Đông y từ thiện, các cơ sở điều trị miễn phí hoặc chi phí thấp cho người nghèo, đóng góp vào quyền được chăm sóc sức khỏe toàn dân.
Bảo trợ xã hội: Vận hành các trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn và trẻ mồ côi, tạo ra môi trường sống an toàn và nhân văn cho những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội.
Những hành động thiết thực này không chỉ là sự cụ thể hóa quyền được chăm sóc sức khỏe và quyền được giáo dục của các nhóm yếu thế, mà còn là sự minh chứng cho tinh thần “Hộ quốc an dân”, “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” mà Giáo hội luôn theo đuổi. Đến năm 2026, khi Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh các chỉ số phát triển con người, sự tham gia tự nguyện và hiệu quả của các tổ chức Phật giáo vào hệ thống an sinh xã hội chính là sự cộng hưởng hoàn hảo giữa “đức trị” và “pháp trị”, hiện thực hóa cam kết của Nhà nước về việc bảo đảm quyền con người một cách bao trùm, nhân văn và bền vững.
5. Hàm ý chính sách: Phát huy nguồn lực tôn giáo trong bảo đảm an sinh xã hội
Từ những phân tích lý luận và thực tiễn về sự tương đồng giữa giá trị nhân quyền trong giáo lý Phật giáo và các chuẩn mực pháp lý đương đại, dưới góc nhìn “Tầm nhìn - Chính sách” và định hướng chiến lược từ Văn kiện Đại hội XIV (2026), để hiện thực hóa việc bảo đảm quyền con người một cách bền vững, Nhà nước cần có những bước đi quyết liệt nhằm thể chế hóa và khơi thông nguồn lực tôn giáo. Việc phát huy hiệu quả giá trị nhân quyền của Phật giáo không chỉ là vấn đề tôn giáo đơn thuần, mà là một chiến lược quản trị quốc gia hiện đại, tận dụng “nguồn lực mềm” để bổ trợ cho hệ thống an sinh xã hội. Cụ thể, cần xem xét các khuyến nghị chính sách sau:
Một là, đồng bộ hóa và hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động xã hội của các tổ chức tôn giáo.
Thực tế triển khai các hoạt động xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thời gian qua cho thấy, dù tiềm năng là rất lớn nhưng sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật hiện hành vẫn là điểm nghẽn. Cần có sự đồng bộ hóa cao độ giữa Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 (hiện nay đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật năm 2026, có hiệu lực từ ngày 01/01/2027) với các luật chuyên ngành như Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, Luật Giáo dục 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các quy định về bảo trợ xã hội. Chính sách cần thiết lập cơ chế “cửa sổ đơn” hoặc thủ tục hành chính đặc thù, đơn giản hóa tối đa cho các cơ sở tôn giáo khi đăng ký thành lập và quản lý các cơ sở bảo trợ xã hội, y tế, giáo dục tư nhân phi lợi nhuận. Việc này không chỉ tạo điều kiện pháp lý thuận lợi mà còn khuyến khích Giáo hội Phật giáo Việt Nam đầu tư nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và nhân lực chất lượng cao vào các lĩnh vực phúc lợi công cộng, giảm áp lực lên ngân sách Nhà nước và đảm bảo quyền tiếp cận dịch vụ xã hội của người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế.
Hai là, phối hợp đa phương trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật và xây dựng đời sống văn hóa.
Trong công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền, việc chuyển tải các thông điệp pháp luật khô khan thành niềm tin đạo đức là một nghệ thuật quản trị. Chính quyền các cấp nên chủ động phối hợp với Ban Trị sự các cấp của Giáo hội để lồng ghép việc tuyên truyền Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 vào nội dung các buổi pháp thoại, khóa tu mùa hè, các diễn đàn Phật giáo. Ngôn ngữ tôn giáo với đặc thù nhẹ nhàng, hướng thiện, có tính thuyết phục cao sẽ thẩm thấu sâu sắc vào nhận thức của tín đồ và nhân dân, giúp chính sách pháp luật dễ dàng được chấp nhận và thực hiện một cách tự giác. Đây là hình thức “pháp luật hóa đạo đức” và “đạo đức hóa pháp luật”, giúp thay đổi những định kiến giới, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tâm thức cộng đồng, tạo tiền đề để các nhóm yếu thế tự tin thực hiện quyền của mình.
Ba là, xã hội hóa và chuyên nghiệp hóa công tác an sinh xã hội thông qua cơ chế hợp tác.
Nhà nước cần tiên phong áp dụng cơ chế “hợp tác công - tư” (PPP) hoặc các mô hình đặt hàng dịch vụ công đối với các tổ chức tôn giáo. Cụ thể, Nhà nước có thể đặt hàng các cơ sở Phật giáo uy tín cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, trẻ mồ côi hoặc tư vấn tâm lý cho phụ nữ bị bạo hành, dựa trên cơ sở hỗ trợ một phần kinh phí hoặc chính sách ưu đãi về đất đai, thuế. Việc tận dụng nguồn quỹ từ thiện minh bạch và lực lượng tình nguyện viên đông đảo, tận tụy của nhà chùa không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực xã hội mà còn đảm bảo chất lượng dịch vụ an sinh được nhân văn hóa. Điều này đòi hỏi một cơ chế giám sát minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình của cả hai phía, đảm bảo các nguồn lực xã hội được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và công bằng theo tinh thần của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
6. Kết luận
Phật giáo không chỉ dừng lại ở một hệ thống tín ngưỡng hướng nội, mà còn là một nền tảng triết học hành động mạnh mẽ, mang trong mình tư tưởng quyền con người vượt thời đại. Việc khơi dậy, bảo tồn và phát huy các giá trị về sự bình đẳng, lòng từ bi, tinh thần vô ngã của Phật giáo chính là việc đánh thức một nguồn lực nội sinh to lớn, góp phần quan trọng vào công cuộc bảo đảm quyền con người, thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ nhóm yếu thế tại Việt Nam. Đây không chỉ là sự khẳng định tính nhân văn của Nhà nước pháp quyền XHCN, mà còn là minh chứng cho sự linh hoạt, sáng tạo trong nghệ thuật quản trị quốc gia, khi biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh của luật pháp và chiều sâu của văn hóa, đạo đức dân tộc.
Khi chính sách pháp luật của Nhà nước được cộng hưởng với đạo lý, tình người của tôn giáo, xã hội sẽ phát triển một cách bền vững, bao trùm và hài hòa. Đó chính là chìa khóa để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược mà Đảng và nhân dân Việt Nam đang hướng tới: Xây dựng một đất nước “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nơi mỗi cá nhân, dù là ai, ở địa vị nào, đều được tôn trọng, bảo vệ và phát huy tối đa tiềm năng của mình trong sự che chở của luật pháp và tình thương yêu đồng loại.
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam. (2022). Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Tu chỉnh lần thứ VII, thông qua tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2022 - 2027).
Liên Hợp Quốc. (1948). Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (Universal Declaration of Human Rights - UDHR).
Quốc hội. (2006). Luật Bình đẳng giới. Luật số 73/2006/QH11 ban hành ngày 29/11/2006.
Quốc hội. (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013.
Quốc hội. (2016). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Luật số 02/2016/QH14 ban hành ngày 18/11/2016.
Quốc hội. (2019). Luật Giáo dục. Luật số 43/2019/QH14 ban hành ngày 14/06/2019.
Quốc hội. (2022). Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (Luật số 13/2022/QH15, thông qua ngày 14/11/2022).
Quốc hội. (2023). Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Luật số 15/2023/QH15 ban hành ngày 09/01/2023.
Thích Minh Châu (Dịch). (1991). Kinh Trung Bộ (Tập 2). Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
Thích Minh Châu (Dịch). (1991). Kinh Trung Bộ. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
Thích Minh Châu (Dịch). (1999). Kinh Tiểu Bộ (Tập 1, Kinh Tập). Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
Thích Minh Châu (Dịch). (1999). Kinh Tiểu Bộ (Tập 4, Trưởng lão Ni kệ). Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
Thích Minh Châu (Dịch). (2001). Kinh Tăng Chi Bộ (Tập 3). Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
Thích Minh Châu (Dịch). (2012). Kinh Tương Ưng Bộ (Tập 1, Thiên Có Kệ - Tương Ưng Kosala). Nhà xuất bản Tôn giáo.
Thích Minh Châu (Dịch). (2012). Kinh Tương Ưng Bộ (Tập 2, Thiên Nhân Duyên). Nhà xuất bản Tôn giáo.
Thích Trí Tịnh (Dịch). (2007). Kinh Đại Bát Niết Bàn (Tập 1). Nhà xuất bản Tôn giáo.
Thích Trí Tịnh (Dịch). (2007). Kinh Thắng Man. Nhà xuất bản Tôn giáo.
Bình luận
Gửi bình luận