Phật giáo với Phật sự công tác tri ân Anh hùng dân tộc

Pháp danh: Thích Nữ Hữu Thuận

Lớp: Thạc sĩ 4 – HVPGVN tại Hà Nội

Đơn vị: Chùa Diệu Sơn, xã Cẩm Vân, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá

Gmail: Trinhthao2505@gmail.com

Tóm tắt:  Trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử dân tộc, đạo Phật luôn có mặt trong lòng dân tộc Việt Nam, gắn bó với dân tộc Việt trong mọi thăng trầm. Từ xa xưa, giáo lý nhà Phật đã thấm nhuần trong đời sống của đông đảo người Việt từ nông thôn tới thành thị. Những giá trị tốt đẹp của Phật giáo đã góp phần hun đúc nên những giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa và con người Việt Nam. Phật giáo du nhập vào Việt Nam đã nhanh chóng hòa quyện với các tín ngưỡng, văn hóa dân tộc, thâm nhập vào đời sống tinh thần của người dân Việt, góp phần không nhỏ vào đời sống tinh thần của người dân từ phương diện đạo đức, lối sống, nếp sống tâm linh, nghệ thuật,… Công tác tri ân Anh hùng liệt sĩ là nghĩa cử cao đẹp của mỗi người con Việt thể hiện lòng thành kính, “ đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn” với những người có công. Và Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong công tác tri ân –  báo ân người có công với đất nước.

Từ khóa:  Phật sự Phật giáo, Tri ân anh hùng, phụng đạo yêu nước, “Uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”

1: Mở đầu

Đã hơn hai nghìn năm trôi qua, từ khi có mặt trên dải đất hình chữ S, Phật giáo như người bạn, đồng hành cùng dân tộc trên mọi nẻo đường, đồng cam cộng khổ cùng dân tộc trong mọi biến cố, thăng trầm. Khi đất nước đứng trước mối nguy bị xâm lăng, Phật giáo cùng nhân dân đồng lòng đứng lên, đoàn kết sức mạnh đánh đuổi quân thù, mang lại bình yên cho tổ quốc; khi đất nước bình yên, Phật giáo lại cùng nhân dân xây dựng và phát triển đất nước. Chính vì thế mà có câu:

“Trang sử Phật

Đồng thời là trang sử Việt

Trải bao độ hưng suy

Có nguy mà chẳng mất”.

(Khái quát qua những câu thơ đẹp của thi sĩ Hồ DZếnh)

Thời gian trôi qua, với tinh thần từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha, yêu chuộng hòa bình, tôn trọng sự sống, chân lý cao đẹp, đề cao đạo đức, đề cao tính thiện lành, đạo Phật đã thực sự trở thành tôn giáo truyền thống, đem lại lòng tin đối với người dân Việt. Phật giáo tiếp nối lịch sử, đoàn kết cùng dân tộc để làm tròn sứ mệnh của mình trong xây dựng và phát triển đất nước với phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang hòa mình cùng với dòng chảy phát triển của đất nước về mọi mặt từ công cuộc xây dựng đất nước đến đời sống xã hội. Với tinh thần nhập thế, phụng đạo yêu nước, Phật giáo luôn đồng hành cùng nhà nước trong việc nhớ ơn, tri ân các anh hùng dân tộc.

2: Phật giáo với Phật sự công tác tri ân Anh hùng dân tộc.

2.1: Đạo Phật đi vào đời sống con người.

Từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã hòa nhập vào đời sống dân tộc trong suốt trường kỳ lịch sử. Trải qua nhiều triều đại phong kiến, mối quan hệ giữa Phật giáo và nhà nước luôn song hành cùng tồn tại và phát triển. Vì vậy, Phật giáo không chỉ ăn sâu vào đời sống tâm linh mà còn đi vào đời sống văn hóa dân tộc, trong đó tri ân, báo ân anh hùng đã thấm nhuần trong tư tưởng người con Việt. Theo giáo sư Trần Văn Giàu, trong bảng giá trị truyền thống Việt Nam, tư tưởng yêu nước là giá trị đạo đức tinh thần hàng đầu, được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Lòng yêu nước biểu hiện ở mọi lúc mọi nơi, in sâu trong ý thức hệ của người dân Việt, với tinh thần anh dũng bất khuất trước kẻ thù, sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Hòa thượng Thích Gia Quang từng nói: “Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã được người Việt “thổi” vào trong nó tinh thần yêu nước cao độ, từ một tôn giáo xuất thế trở thành một tôn giáo nhập thế tích cực. Phật giáo đã đã góp phần quan trọng củng cố nhân tâm, đoàn kết cộng đồng.”. Quả thật vậy, Phật giáo đã gắn bó, đồng hành cùng dân tộc Việt như nước với sữa, cùng dân tộc trải qua bao thăng trầm để có được cuộc sống thanh bình, hạnh phúc như hiện tại. Ngày nay, Đạo và Đời vẫn luôn song hành với nhau: “Đời với đạo, Tuy hai mà một, Đạo với đời, Tuy một mà hai”, cả hai dung hợp, linh động, sáng tạo trong mọi hoàn cảnh xã hội, làm cho Phật giáo trở thành một tư tưởng triết lý hùng mạnh, góp công lớn trong xây dựng và phát triển đạo pháp, cũng như bảo vệ và mở mang đất nước. Đạo Phật Việt Nam trong hiện tại tiếp tục xây dựng con người và xã hội, đồng thời góp sức vào sự xây dựng cộng đồng nhân loại.

2.2 Mối quan hệ giữa Phật giáo với dân tộc.

Phật giáo thích ứng với mọi hoàn cảnh lịch sử của dân tộc, trong suốt hàng ngàn năm lịch sử vẫn luôn “sống” trong lòng người Việt, gần gũi, thân thương với dân tộc và người con Việt: “Mái Chùa che chở hồn dân tộc, Nếp sống muôn đời của Tổ tông…” Có thể nói, đây là sự hòa mình của đạo Phật, là quá trình đạo Phật dần dần được Việt Nam hóa, trở thành một phần của xã hội Việt Nam. Vì thế, đạo Phật trong đời sống dân tộc là máu – thịt, là tim – óc trong cơ thể của một con người. Lịch sử Phật giáo Việt Nam gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Vận mệnh dân tộc có lúc thịnh, lúc suy, Phật giáo Việt Nam cũng có lúc thăng lúc trầm, nhưng trong hoàn cảnh nào thì Phật giáo Việt Nam vẫn đóng góp công sức, góp phần trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó được thể hiện qua trang sử vẻ vang từ thời Đinh – Tiền Lê,  Lý – Trần cho đến các triều đại về sau và nhất là thời đại của Hồ Chí Minh lịch sử. Các vị Thiền sư thời ấy là những nhà chính trị – quân sự – ngoại giao lỗi lạc xuất sắc của thời đại, là những người có công lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước như: Quốc sư Khuông Việt phò giúp vua Đinh trên phương diện ngoại giao; Thiền sư Vạn Hạnh có công giúp vua Lê Đại Hành đánh tan giặc Tống và cũng là người khuyên Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, đặt nền móng lâu dài cho muôn đời sau. Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống giặc Nguyên Mông xâm lược. Khi đất nước thái bình, Ngài nhường ngôi và đến nơi non cao Yên Tử để học Phật, tu hành, sáng lập nên Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử, mang bản sắc riêng của thiền học Việt Nam.

Phật giáo đạt cực thịnh dưới thời Trần rồi bắt đầu suy thoái vào thời Hậu Lê. Dưới triều Lê sơ, Tống Nho được xem trọng hơn Phật giáo, nên nói rằng Phật giáo ở giai đoạn này suy thoái cũng đúng, nhưng đó chỉ là trên phương diện nổi, còn ẩn sâu bên trong nó vẫn dậy lên một nguồn sống bất tuyệt. Trong cuốn Việt Nam Phật giáo Sử luận của Nguyễn Lang đã nhận định chung về Phật giáo thời Hậu Lê như sau, “…đứng về phương diện đóng vai trò lãnh đạo văn hóa trí thức và chính trị, đạo Phật trong thời Lê Mạc lâm vào trạng thái suy đồi nhưng đứng về phương diện tín ngưỡng dân gian, đạo Phật trong thời đại ấy vẫn tiếp tục phát triển”. Đến thời nhà Nguyễn, Phật giáo có sự khởi sắc. Việt Nam Phật giáo Sử luận ghi nhận vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Ðức đều quan tâm, phục hưng đạo Phật qua việc tu bổ xây mới chùa tháp,…Nhưng cuối thời Nguyễn, dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, Phật giáo rơi vào tình trạng suy kiệt về mọi mặt khiến xã hội có những nhận thức sai lệch về giá trị mà đạo Phật mang lại. Tuy nhiên đến giai đoạn 1930-1945, cả nước đã diễn ra phong trào “chấn hưng Phật giáo”, đó là dấu ấn quan trọng của Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn cận đại.

Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, Phật giáo cũng có những đóng góp đáng ghi nhận vào chiến thắng hào hùng của nhân dân ta. Nhiều cơ sở thờ tự của Phật giáo trên khắp mọi miền đất nước đã trở thành căn cứ che chở, nuôi giấu cán bộ cách mạng; nhiều nhà sư đã nêu cao tinh thần anh hùng “cởi áo cà sa khoác chiến bào” lên đường nhập ngũ, trực tiếp cầm súng chiến đấu ngoài mặt trận. Trong lao động sản xuất, thực hiện nếp sống đạo đức, văn hóa, tăng ni, phật tử trở thành những người tiêu biểu, gương mẫu, là chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân. Đó là những minh chứng cho tinh thần yêu nước chân chính của Phật giáo Việt Nam hòa mình trong dòng chảy lịch sử dân tộc.

Ngày nay, Phật giáo vẫn góp phần xứng đáng trong quá trình phát triển đất nước. Đối với Việt Nam, nói đến tôn giáo là người ta nghĩ ngay đến đạo Phật, đến những việc làm quý báu, đẹp đẽ của đông đảo Tăng Ni, Phật tử. Trong thời điểm dịch bệnh  covid-19 bùng phát, Phật giáo Việt Nam đã có nhiều đóng góp trong công tác phòng, chống dịch “gấp áo cà sa khoác áo blouse” thể hiện rõ tinh thần “hộ quốc an dân”. Đạo Phật ở Việt Nam đã mang màu sắc dân tộc Việt Nam rõ rệt. Có thể nói rằng Phật giáo Việt Nam đã góp phần làm sáng ngời lý tưởng dân tộc và trưởng thành cùng dân tộc.

2.3 Tinh thần tri ân, báo ân anh hùng dân tộc của người con đất Việt.

“ Người đang sống nhớ thương người đã khuất,

Khắc đá làm bia dựng giữa đất trời,

Muôn kiếp uy nghi  người liệt sĩ,  

Khói vẽ nên hình bóng vĩ nhân”

Không ai chọn cho mình cái chết, cũng không ai muốn mình phải chết và không có cái chết nào ý nghĩa hơn sự sống. Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy thì lựa chọn cái chết để đất nước được trường tồn là một lựa chọn vinh quang và cao cả. Các anh đã cống hiến hết tuổi xuân của mình, ra đi góp xương máu để tạc dáng non sông, vẽ nên hình hài đất nước, những người con ưu tú đã mãi yên nghỉ để chúng ta hôm nay được thụ hưởng những giá trị của độc lập tự do, của hòa bình và hạnh phúc. Thấu hiểu được điều ấy, trong tác phẩm “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lịch sử đã biết bao cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các anh hùng dân tộc, vì họ là tiêu biểu một dân tộc anh hùng”. Chính vì vậy “Ngày 27/7 đã đi vào lịch sử đất nước như một dấu ấn, nhắc nhở mọi người về truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc Việt. Đó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta qua đó tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ về lòng biết ơn đối với những người đã có công với cách mạng.

Hàng năm cứ đến ngày 27/7, Tăng Ni, Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam đều tổ chức đại lễ cầu siêu cho anh linh Anh hùng liệt sĩ, để tưởng niệm,  tri ân công lao to lớn của họ vì nền độc lập dân tộc, vì sự nghiệp thống nhất đất nước, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Tại Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Vị Xuyên – nơi yên nghỉ hơn 1700 người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống trong cuộc đấu tranh bảo vệ cực Bắc của Tổ quốc. Đại lễ tưởng niệm được tổ chức trong không khí trang nghiêm, trọng thể với các nghi thức: Khai đàn, tiến hành nghi thức cầu siêu, cúng Phật, quy y cho anh hùng liệt sỹ, thắp nến tri ân, cầu hòa bình… Đây là hoạt động rất ý nghĩa, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Áp dụng lời Phật dạy vào đời sống thường ngày, người con Phật thực hành theo nghĩa đạo cao cả thể hiện lòng tri ân với anh hùng liệt sĩ, đó là “Tứ trọng ân”. Trong đó, ân Quốc gia hay ân đất nước là nghĩa đạo không thể thiếu. Vận dụng lời dạy ấy, ngày nay chúng ta thường thấy các Khoa nghi Chẩn tế, Trai đàn Giải oan bạt độ, Cầu siêu cho các Anh hùng liệt sĩ, đồng bào tử trận nạn vong,… diễn ra ở khắp nơi trên đất nước. Đây là truyền thống từ ngàn xưa và đến ngày nay vẫn giữ được nguyên bản nét đẹp ấy. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng, lễ Trai đàn bắt đầu thịnh hành ở Đại Việt từ năm 1302 bởi một đạo sĩ người phương Bắc tên là Hứa Thông Đạo (1). Kể từ đây, hầu như triều đại nào cũng tổ chức nghi lễ này. Thời Trần, năm 1320, sư Pháp Loa đã tổ chức lễ Trai đàn ở chùa Phổ Ninh trong cung để cầu cho thượng hoàng Anh Tông được trường thọ. Đến thời Lê, dù không còn trọng dụng Phật giáo như thời Lý – Trần, lễ Trai đàn vẫn được tổ chức. Đến thời vua chúa nhà Nguyễn, nghi lễ này được tổ chức thường xuyên hơn. Lễ Trai đàn được tổ chức nhiều nhất dưới triều Minh Mạng (hơn 10 lần). Việc các triều đại phong kiến Việt Nam thường xuyên cho tổ chức lễ Trai đàn đã phần nào cho thấy vị trí của nghi lễ này trong sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt. Lễ Trai đàn không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh, mà đó còn thể hiện tinh thần tri ân với anh hùng đã khuất của triều Nguyễn. Dưới triều Minh Mạng, lễ trai đàn bạt độ rất được chú trọng, vua Minh Mạng đã nhiều lần nói rõ mục đích của mình trong việc tổ chức trai đàn để cầu siêu cho vong linh của những binh sĩ tử nạn trong các trận chiến, qua đó tỏ lòng thương xót của nhà vua đối với những người đã hy sinh. Tuy nhiên, lễ trai đàn còn mang ý nghĩa khác. Bản chất của lễ trai đàn không chỉ vì người đã chết mà còn vì người đang sống. Qua nghi lễ này, triều đình mong muốn làm yên lòng gia quyến của những binh sĩ đã hy sinh, đồng thời gửi gắm thông điệp đến những quan quân, binh sĩ đang ngày đêm chiến đấu bảo vệ đất nước, từ đó động viên họ hăng hái chiến đấu không ngại gian khổ, khó khăn. Với quan niệm rằm tháng 7 là ngày mở cửa ngục, ân xá cho vong nhân, vong hồn có thể lên dương gian hưởng vật phẩm cúng tế nên nhiều lễ Trai đàn được lập vào thời gian này. Khoảng cách giữa các lễ không có quy định cụ thể, tùy thuộc vào tình hình đất nước, các sự kiện đặc biệt… Địa điểm tổ chức lễ Trai đàn thường là các ngôi chùa ở xung quanh kinh thành Huế như Thiên  Mụ, Linh Hựu, Giác Hoàng… trong đó, chùa Thiên Mụ là nơi được vua Minh Mạng chọn tổ chức nhiều nhất, đó là các năm 1821, 1825, 1835, 1837, 1839. Cũng có lúc lễ Trai đàn được tổ chức ở các ngôi chùa khá xa kinh thành như lễ Trai đàn năm 1840 tại chùa Phật Tích ở tỉnh Sơn Tây, hay chùa Khải Tường ở Gia Định . Trai đàn tổ chức năm 1835 ở chùa Thiên Mụ, vua dụ Nội các: “…Đạo Phật lấy tế độ làm trọng, có lẽ giúp cho âm phúc được nhờ. Vậy sai bộ Lễ sắm vật liệu trước, đến ngày Trung Nguyên truyền cho các sư tập họp ở chùa Thiên Mụ lập đàn tràng thủy lục 21 ngày để siêu độ vong hồn những quan quân ta đã chết vì việc nước” (2). Cũng có lúc, vua Minh Mạng tổ chức trai đàn với mong muốn lớn lao hơn cả “… để mong cho người khỏe, vật thịnh, sóng sông yên ổn, lúa thóc được mùa để hả lòng trẫm vì dân cầu phúc…”(3). Vua Minh Mạng là đấng minh quân, luôn lo nghĩ đến dân, không chỉ lo cho người sống mà còn nghĩ đến những người đã khuất và Người cũng đã thấu rõ đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, luôn tỏ lòng biết ơn đối với Anh hùng, binh sĩ đã ngã xuống vì đất nước. Trai đàn dưới triều Nguyễn do triều đình đứng ra tổ chức, các Bộ trực tiếp điều hành công việc, mọi kinh phí tổ chức đều xuất công quỹ để làm, tuyệt đối không huy động sức dân. Mặc dù quy định là vậy nhưng vua Minh Mạng vẫn lo ngại các quan địa phương phiền hà đến dân nên mỗi khi tổ chức trai đàn vua luôn cẩn thận dặn dò “Những lễ phẩm đàn chay cần dùng đến và các thứ nhân công vật liệu, do quan tỉnh lấy tiền mà làm không được dùng đến công sức tiền tài của dân”(4). Chư Tăng và dân chúng là thành phần quan trọng không thể thiếu trong các trai đàn, ở trai đàn không chỉ có sự tham gia của chư Tăng ở chính nơi tổ chức, mà chư Tăng ở các thành, dinh, trấn khác cũng được mời tham dự. Số lượng chư Tăng được mời về dự lễ khá lớn. chẳng hạn, “ở trai đàn chùa Thiên Mụ năm 1821, ban đầu Nguyễn Hữu Thần, Nguyễn Công Tiệp tâu danh sách mời dự trai đàn lần này có 419 hòa thượng, đại sư, tăng chúng ở các chùa từ Thừa Thiên Huế đến Gia Định, trong đó Hòa thượng 4 người, đại sư 64 người, tăng chúng 315 người; tùy tùng và tiểu 36 người nhưng sau đó vua Minh Mạng đã điều chỉnh lại là 1014 người”(5). Hầu hết chư Tăng được mời dự trai đàn đều là những vị chân tu, đắc đạo, nổi tiếng về đạo hạnh như Hòa thượng Huệ Quang, Hòa thượng Phước Lâm… Tuy số lượng chư Tăng và dân chúng tham gia trai đàn lớn nhưng triều đình vẫn chuẩn bị rất chu đáo trong việc đón tiếp, cơm nước đầy đủ và cấp lộ phí đi đường. Không những vậy, nhà vua còn ban thưởng hậu hĩnh cho những người tham gia và phục dịch trai đàn, thậm chí người nhà của các tướng sĩ tử nạn đến dự trai đàn cũng được chuẩn bị cơm chay chu đáo. Qua việc tổ chức các buổi lễ trai đàn quy mô lớn đã cho thấy sự quan tâm đặc biệt của triều đình đối với các nghi lễ Phật giáo. Thông qua lễ trai đàn, vua Minh Mạng đã thể hiện sự quan tâm của mình đối với dân chúng, bày tỏ thái độ trân trọng, biết ơn đối với những binh sĩ đã hi sinh vì đất nước. Cách làm này, giúp vua Minh Mạng đến gần hơn với dân chúng, thu phục được nhân tâm, đoàn kết được quân dân, ổn định tư tưởng xã hội để phát triển đất nước.

Hàng năm cứ đến ngày 27/7, cả nước lại hướng về các nghĩa trang liệt sĩ để thành kính dâng hương, tri ân công lao to lớn của những anh hùng đã ngã xuống vì nền độc lập nước nhà. Đây cũng là dịp quan trọng để chính quyền các cấp, các tổ chức, cá nhân đến thăm hỏi các gia đình liệt sĩ, mẹ Việt Nam anh hùng. Theo tinh thần Phật giáo, để thể hiện lòng nhớ ơn, tri ân với Anh hùng dân tộc, hòa mình với tinh thần yêu nước thương dân, lễ tưởng niệm cầu siêu được tổ chức trang nghiêm, trọng thể ở khắp các ngôi chùa Việt với đầy đủ khóa lễ như: bạch Phật khai kinh, thỉnh Tiêu Diện Đại Sĩ, Tuyên sớ Cầu siêu, Thỉnh tiến chư Hương linh, Tụng Kinh cầu siêu, Chẩn tế Cô hồn hay tặng quà đến các gia đình chính sách đặc biệt,…Khi đất nước giành độc lập, biết bao giọt máu đào đã đổ xuống làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi và không ít số đó, những người con đã hy sinh, trong lòng vẫn mong muốn, chờ đợi ngày được đoàn tụ bên gia đình, người thân thương: “Khi nào hoà bình con sẽ về”, “Khi hết chiến tranh ta sẽ lấy nhau”, “Con ở nhà với mẹ chiến tranh kết thúc bố sẽ về với hai mẹ con”… Giờ đây, nơi pháp đàn, thế hệ đi sau đang hướng lòng về những người đã khuất, mong họ nương nhờ Tam bảo cùng gia trì, chú nguyện, được nhìn lại quê hương đất nước sau những tháng ngày chiến tranh, được dùng bữa cơm thanh đạm thấm đượm tình quân dân,… Sau đó, mong họ trút bỏ gánh nặng trong lòng để yên nghỉ nơi đất mẹ. Bao nỗi căm hận, uất ức giờ đây nhờ ánh sáng hào quang của đức Phật từ bi mà xoá sạch đi tất cả, nhẹ lòng về với đức Phật A Di Đà. Vì vậy, từ Bắc vào Nam, từ thành thị đến nông thôn, ở khắp các ngôi chùa Việt, đâu đâu ta cũng thấy nơi thờ tự anh linh, anh hùng liệt sĩ. Bác Hồ từng dạy: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước”. Lời dạy ấy phản ánh sâu sắc tinh thần của dân tộc, không tiếc thời gian, của cải, công sức và cả thân mạng để giữ yên bờ cõi. Để hoàn thành sứ mệnh ấy, không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và cả mạng sống của các anh hùng, liệt sĩ đổ xuống để đổi lại cuộc sống hạnh phúc, nhân dân ấm no như ngày hôm nay. Sự hy sinh ấy không thể không nhắc đến vai trò của người mẹ. Đó là sự hy sinh vì sự tồn vong của dân tộc, sự hy sinh mang lại sức sống bất diệt cho Tổ quốc. Lịch sử ngàn năm của người mẹ Việt là “cắn răng chịu đựng”, nuốt nước mắt vào trong, hy sinh từng mảnh ruột, giọt máu vì độc lập dân tộc. Hình ảnh ấy đã ngấm sâu, chảy trong huyết quản của người mẹ, người vợ, người chị, người em gái Việt Nam mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng. Chúng ta tự hào về những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và nguyện sẽ làm tất cả để tôn vinh họ. Mẹ Thứ là hình tượng tiêu biểu của Bà mẹ Việt Nam anh hùng với sự cống hiến, hy sinh vô bờ bến; là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta kết hợp với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam làm rất tốt công tác chăm sóc thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công thể hiện tính ưu việt, bản chất tốt đẹp, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cơ sở vững chắc giúp ổn định chính trị – xã hội, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Phong trào “Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh liệt sĩ và người có công với cách mạng”, quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, “Nghĩa tình đồng đội”… ngày càng phát triển, được đông đảo tầng lớp nhân dân hưởng ứng với tinh thần trách nhiệm cao. Ngoài ra, Đảng và nhà nước còn xây dựng, nâng cấp, tu bổ mộ liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ,…Ngày nay thương binh bệnh binh, mẹ Việt Nam anh hùng không còn nhiều, tuổi tác đi cùng bệnh tật kéo đến theo thời gian, chỉ vài năm nữa mẹ Việt Nam cũng không biết sẽ còn lại bao nhiêu, cho đến 10 năm, 20 năm nữa thì chắc chắn rằng mẹ Việt Nam Anh Hùng thời chiến chỉ còn trong những câu chuyện, những tác phẩm văn học nghệ thuật, phương danh trong những buổi lễ tế tự cầu siêu. Vì vậy, Đảng và nhà nước cần quan tâm, tận tình chăm sóc và có những chính sách thích đáng với người có công, thể hiện lòng tri ân với họ khi còn sống.

Việt Nam có đường biên giới dài, tiếp giáp với nhiều quốc gia nên vấn đề về chủ quyền biển lãnh thổ đặc biệt quan trọng. Từ xa xưa, ông cha ta đã coi đồng bào các dân tộc ở biên giới là lực lượng quan trọng, là người “đứng mũi chịu sào” để bảo vệ biên cương, bờ cõi của Tổ quốc, vì vậy bộ đội biên phòng đóng vai trò to lớn trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biên giới, hải đảo. Xuất phát từ vị trí, vai trò, tầm quan trọng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và tạo điều kiện cho lực lượng nòng cốt, bảo vệ biên giới quốc gia, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong xây dựng và bảo vệ biên giới, tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới cán bộ, đồng bào các dân tộc vùng biên giới, hải đảo. Trên đà hội nhập và phát triển của nước ta, Phật giáo Việt Nam có những đóng góp không nhỏ, là điểm tựa vững chắc cho sự phát triển ấy. Trước tình hình biển đông hiện nay, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã tích cực lên án khi giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử trên khắp đất nước đã cầu nguyện hòa bình ở biển đông. Thể hiện tinh thần “Hộ quốc an dân” Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã tổ chức “Lễ cầu nguyện hòa bình cho biển Đông”, cầu nguyện hòa bình và động viên quân, dân trên các đảo tiền tiêu. Thực hiện “Đại lễ Cầu siêu” cho các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. Hòa thượng Thích Đức Nghiệp, Phó Pháp chủ Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đã đọc thông điệp của Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam về hòa bình tại biển Đông: “Trên tinh thần từ bi và yêu chuộng hòa bình, chúng tôi kêu gọi Chư vị tôn túc lãnh đạo, Tăng ni Phật tử Phật giáo trên thế giới, kêu gọi Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc thông qua các hành động cụ thể hãy cùng nhau lên tiếng ủng hộ chính nghĩa, yêu cầu chính phủ Trung Quốc thực hiện các cam kết theo đúng các quy định của Luật pháp Quốc tế”. 

Chiến tranh đã qua đi nhưng để lại hậu quả vô cùng to lớn. Hình ảnh chiến tranh khắc sâu trong kí ức của người Việt về những cái chết, sự hy sinh của biết bao người. Chiến tranh gây tàn phá tài sản, làm mất đi rất nhiều công trình và thành tựu văn minh mà không thể khôi phục được. Hậu quả của chiến tranh để lại làm ám ảnh tâm trí con người, với bom đạn còn sót lại có thể phát nổ bất cứ lúc nào, và mất nhiều năm để khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh. Hiện nay, ta đang sống trong thời bình, nhưng không nên chủ quan, mỗi cá nhân cần nhận thức bảo vệ độc lập và tự do của đất nước mình, sẵn sàng bảo vệ đất nước, quan tâm đến các chiến sĩ ngày đêm canh gác nơi biên giới hải đảo để đảm bảo sự bình yên cho chúng ta. Hơn thế nữa, là người con Việt, chúng ta nên quan tâm đến đời sống tâm linh. bởi văn hóa tâm linh gắn liền với cuộc sống của con người Việt Nam. Phổ biến với phong tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân trong mỗi gia đình. Ở phạm vi cộng đồng là tục thờ cúng thành hoàng làng, các vị thần, các vị tổ sư, các vị anh hùng đã có công với nước, các danh nhân văn hóa. Người Việt tổ chức xây đền chùa, miếu mạo, và thực hành các nghi lễ cầu cúng. Việc trau dồi đời sống tâm linh cũng là cách đền ơn đáp nghĩa, lòng tri ân với người có công. Nó là điểm tựa vững chắc nhất cho người Phật tử nương tựa, tu tâm cho chính mình, qua đó góp phần đem lại sự an lạc cho linh hồn người quá cố. Đạo đức Phật giáo nổi bật với các giá trị lòng từ bi, đem tình yêu thương đến với mọi người, tu tâm, hành thiện… đã góp phần định hướng lý tưởng sống của nhiều người và trở thành kim chỉ nam hướng con người về chân-thiện-mỹ, với những phẩm chất nhân ái: từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha. Phật giáo mang trong mình trọng trách, sứ mạng đồng hành cùng dân tộc, là nền tảng để mỗi người suy ngẫm, cùng nhau xây dựng cuộc sống hạnh phúc vững bền.

Tài liệu tham khảo

  1. Lê Văn Hưu (Chủ biên) (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, tr.216,  Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
  2. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục chính biên, tập 4 tr. 706, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  3. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục chính biên, tập 5, tr.735 NXB Giáo dục, Hà Nội.
  4. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục chính biên, tập 5, tr.735, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  5. Lý Kim Hoa (2003), Châu bản triều Nguyễn – Tư liệu Phật giáo qua các triều đại nhà Nguyễn 143 năm từ Gia Long 1802 đến Bảo Đại, tr.34-35 NXB Văn hoá thông tin, TP Hồ Chí Minh.
Bình luận
Tin cùng chuyên mục